Xuất khẩu than giảm mức kỷ lục

> Vinacomin kiến nghị giảm thuế xuất khẩu than xuống 10%

TP – Ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho biết, xuất khẩu than đang giảm mạnh nên doanh thu và kết quả kinh doanh thấp.

Theo ông Biên, trong tháng 7, Vinacomin chỉ tiêu thụ 2,1 triệu tấn than (trong nước 1,85 triệu tấn và xuất khẩu 0,25 triệu tấn). Lũy kế 7 tháng đầu năm đạt 23,6 triệu tấn than (trong nước 16,35 triệu tấn; xuất khẩu 7,25 triệu tấn). Do sản lượng than tiêu thụ thấp nên doanh thu, kết quả kinh doanh cũng thấp theo.

Nguyên nhân là mùa mưa nên than bán cho điện giảm (tháng 7 than bán cho điện chỉ đạt 0,9 triệu tấn). Trong khi đó, xuất khẩu than cả tháng 7 chỉ được 250 ngàn tấn. Nếu tính từ thời điểm tăng thuế xuất khẩu than lên 13%, từ ngày 7/7 đến 7/8: sản lượng than xuất khẩu một tháng trung bình chỉ đạt 0,12 triệu tấn, bằng 1/10 bình quân tháng khi áp dụng thuế suất 10%.

Do tiêu thụ than chậm nên lượng than tồn kho tăng, việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng, thu nộp ngân sách giảm (dự kiến cả năm giảm trên 1 ngàn tỷ đồng so với kế hoạch).

Hiện, khoảng 30% sản lượng than phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới. Từ khi tăng thuế xuất khẩu, để nộp thuế 13% không bị lỗ, Vinacomin đã phải tăng giá bán tương ứng, trong khi nền kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng chậm, giá than giảm.

Nếu thuế xuất khẩu than không được điều chỉnh và tình hình thị trường như hiện nay, dự kiến 6 tháng cuối năm, Vinacomin có thể chỉ xuất khẩu tối đa được khoảng 1 triệu tấn (giảm 6 triệu tấn so với 6 tháng đầu năm).

“Thuế xuất khẩu cần điều chỉnh hợp lý, không nên tăng thuế trong lúc thị trường còn nhiều khó khăn để tiêu thụ sản phẩm, ổn định sản xuất, việc làm và tăng thu ngân sách”, ông Biên nói.

PHONG CẦM

Từ khoá: kinh tế thế giới tổng giám đốc nền kinh tế thị trường người lao động tiêu thụ vinacomin xuất khẩu

4 thuyền viên từng nhảy xuống Kênh Panama bỏ trốn lại mất tích ở Nội Bài?

Dân Việt >

Thời sự

4 thuyền viên từng nhảy xuống Kênh Panama bỏ trốn lại mất tích ở Nội Bài?377panamacanal1376736778500x0.jpg

4524

Dân Việt – Tuy nhiên, theo xác minh của cơ quan an ninh, phòng xuất nhập cảnh tại sân bay thì 4 thuyền viên từng bỏ trốn ở Kênh Panama đã làm xong thủ tục xuất nhập cảnh và về nước an toàn.

14 giờ chiều nay (19.8), 4 thuyền viên trốn chạy từ Kênh đào Panama đã về tới sân bay Nội Bài (Hà Nội). Cùng giờ, đại diện công ty Servico và Công ty TNHH MTV Dịch vụ và thương mại VCCI (TSC) là hai công ty có 4 lao động được cho là bỏ trốn, đã tới sân bay đón lao động, nhưng không đón được.

Trả lời phóng viên báo chí chiều 19.8, ông Nguyễn Mạnh Tường – Giám đốc Trung tâm xuất khẩu lao động (thuộc Công ty Servico) cho biết: “Hai thuyền viên này mới đi xuất khẩu lao động được 14 tháng và vẫn chưa hết hợp đồng lao động. Các lao động đã ký quỹ bảo lãnh 5 triệu đồng trước khi đi xuất khẩu lao động”. Tuy nhiên theo ông Tường, chuyện lao động là thuyền viên bỏ trốn là chuyện công ty vẫn thường gặp. Để xác định rõ nguyên nhân, công ty sẽ xác minh làm rõ.

“Theo nguyên tắc chúng tôi đã ra đón lao động, dù không gặp được tại đây nhưng chúng tôi sẽ làm mọi cách để tiếp cận thuyền viên hoặc gia đình thuyền viên. Không ngoại trừ, nguyên nhân là do các lao động phá vỡ hợp đồng nên lo sợ và đã bỏ trốn không muốn công ty ra đón. Dù thế nào thì công ty chúng tôi cũng sẽ liên lạc với lao động để làm rõ nguyên nhân khiến lao động phải nhảy xuống kênh bỏ trốn” – một lãnh đạo khác của Servico thông báo khi ra đón lao động bất thành ngay tại sân bay.

Theo xác minh của cơ quan an ninh, phòng xuất nhập cảnh tại sân bay thì 4 thuyền viên này đã làm xong thủ tục xuất nhập cảnh và về nước an toàn.

Chiều cùng ngày, một lãnh đạo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTBXH) cho biết đã xác định chính xác được danh tính các công ty phái cử đưa lao động đi là công ty Servico và Công ty TNHH MTV Dịch vụ và thương mại VCCI (TSC). Theo đó, Cục đang yêu cầu các công ty hỗ trợ đưa đón lao động và gửi báo cáo ngay về 4 trường hợp lao động bỏ trốn tại Kênh đào Panama.

Trước đó, vào lúc 19 giờ ngày 17.8, 4 lao động này đã được Cục Xuất nhập cảnh Panama cùng Đại sứ quán Việt Nam hỗ trợ vé ra sân bay về nước. Danh tính 4 thuyền viên được xác định là: Lê Đức Chính (22 tuổi), Đào Ngọc Trung (27 tuổi), Trần Văn Dương (21 tuổi), Hồ Thanh Tùng (30 tuổi).

Minh Nguyệt

Từ khoá: bão tài sản công ty lao động đại sứ quán xuất khẩu thuyền viên

Giá than thế giới tiếp tục giảm

gia-than.jpg

Ảnh minh họa.

Nguồn cung tăng khiến giá than quốc tế tiếp tục chịu sức ép giảm.

Ngân hàng Goldman Sachs và Citigroup vừa đưa ra dự báo giá than thị trường thế giới sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới do nguồn cung tăng từ Australia và Indonesia – hai nhà xuất khẩu than hàng đầu thế giới.

Tháng 7/2013, giá than giảm xuống còn 76,25 USD/tấn, giảm 19% so với năm 2012 và là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2009. Giá than trung bình trên thế giới từ đầu năm đến nay chỉ đạt 86,47 USD/ tấn, và tuy phục hồi nhẹ trong tháng Tám so với tháng Bảy song cũng chỉ mới đạt 76,70 USD/tấn.

Giá giảm, chi phí sản xuất tăng và nhu cầu than của Trung Quốc giảm do tăng trưởng kinh tế chậm lại đã khiến công ty xuất khẩu than lớn nhất thế giới Glencore Xstrata Plc phải hủy bỏ nhiều dự án và sa thải lao động.

Giám đốc điều hành tập đoàn năng lượng Rio Tinto Group, Harry Kenyon nói rằng chi phí tăng, thị trường yếu, năng suất kém khiến giá than giảm cùng với đồng đôla Australia mạnh đang gây khó khăn lớn cho các nhà khai thác và xuất khẩu.

Ông Harry Kenyon cũng cho biết, do chi phí lao động trong ngành than Australia tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2008, trong khi mức tăng sản xuất chỉ đạt 10% và giá trị trung bình của đồng đôla Australia trong 3 năm qua là 1 USD, mạnh lên khá nhiều so với 0,70 USD cách đây hai thập kỷ đã đẩy giá than xuất khẩu tăng, buộc ngành công nghiệp than Australia cắt giảm khoảng 11.000 nhân công vào năm ngoái.

Trong khi đó, cung sẽ vẫn dồi dào khi xuất khẩu than năm nay của Australia – nhà xuất khẩu than lớn thứ hai thế giới – được dự báo sẽ tăng 7% lên 183 triệu tấn, và xuất khẩu than cùng kỳ của Indonesia dự báo tăng 6%.

Theo khảo sát 10 ngân hàng lớn của Bloomberg, trong đó có Societe Generale và Bank of America Corp, giá than trong năm tới có thể tăng lên 96 USD/tấn, cao hơn mức cao 94,5 USD/tấn hồi tháng 2/2013.

Chuyên gia kinh tế Colin Hamilton, công ty Macquarie Group Ltd có trụ sở tại London, nói rằng thị trường than toàn cầu đang bắt đầu có dấu hiệu điều chỉnh, giá than Newcastle có thể chỉ đạt mức trung bình 82 USD/tấn trong nửa cuối năm nay và nguồn cung dư thừa sẽ vẫn là “vấn đề lớn” đối với ngành than trong năm 2013.

Hiệp hội Than Trung Quốc cho biết nhu cầu than trong 6 tháng đầu năm nay của Trung Quốc – nhà nhập khẩu than lớn nhất thế giới, chỉ tăng 1,8% lên mức 1,93 tỷ tấn.

Nguồn Thời báo ngân hàng

Từ khoá: thị trường xuất khẩu australia gia bão chi phí thế giới trung quốc thận trọng

Nghịch lý lợi nhuận chuỗi ngành hàng cao su

Theo báo cáo ngành hàng cao su của Trung tâm Xúc tiến thương mại (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tình trạng rớt giá mủ cao su từ đầu năm đến nay đã khiến nông dân trồng cao su tiểu điền và các nông trường lao đao. Thế nhưng, khối doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cao su lại thu lãi khủng.

Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, kết quả xuất khẩu cao su trong 7 tháng qua đạt 498 ngàn tấn, kim ngạch 1,21 tỷ USD, giảm 4,5% về khối lượng và giảm 18,4% về giá trị so với cùng kỳ 2012.

Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất của Việt Nam nhưng đã giảm 12,9% về khối lượng và giảm 24,1% về giá trị so với cùng kỳ. Thị trường Malaysia tăng 17% về khối lượng nhưng giảm 7,5% về giá trị so với cùng kỳ…

Người trồng lao đao

Theo Trung tâm Xúc tiến thương mại (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giá cao su xuất khẩu từ đầu năm đến nay đạt bình quân 2.540 USD/tấn, giảm 15,9% so với cùng kỳ 2012. Giá thu mua mủ cao su trong nước giảm mạnh gấp nhiều lần so với tốc độ giảm giá cao su xuất khẩu.

Nếu giữa năm 2012, người trồng cao su tiểu điền bán được mủ tươi dạng nước với giá 25-26 nghìn đồng/kg, thì hiện tại chỉ trên dưới 10 nghìn đồng/kg. Tại Tây Nguyên, giá mủ cao su sơ chế chỉ còn 41-42 triệu đồng/tấn.

Không khí ảm đạm đang bao trùm lên các nông trường cao su khi giá bán mủ thấp hơn giá thành sản xuất, tồn kho hàng chục nghìn tấn cao su khiến người lao động đối mặt với tình trạng giảm lương, mất việc.

Điển hình như Công ty TNHH MTV cao su Mang Yang đã có hơn 100 người bỏ việc vì lương khoán trả thấp. Vườn cao su tiểu điền của các nông hộ cũng đang lâm vào tình thế lao đao.

Tại huyện Đức Cơ (Gia Lai) có diện tích cao su tiểu điền khá lớn với hơn 4.200ha, người dân đang lỗ nặng. Ông Đoàn Công Á ở thị trấn Chư Ty đang sở hữu khoảng 7ha cao su cho biết, giá mủ hạ thấp, cao su đến thời điểm mở miệng cạo mà tiền công phải trả cho nhân công cạo mủ quá cao, sản lượng mủ ít, chúng tôi lỗ nặng nhưng không thể không làm. Hầu hết các hộ có vườn cao su lâu năm đang phải khai thác cầm chừng vì giá bán hiện chỉ 10.000 đồng/kg mủ tươi.

Doanh nghiệp lãi cao

Trong khi nông dân và nông trường trồng cao su thua lỗ, thì vừa qua, các doanh nghiệp ngành cao su đều công bố báo cáo tài chính vẫn lãi lớn. Với các doanh nghiệp sơ chế và xuất khẩu cao su, tuy khối lượng xuất khẩu và giá bán giảm mạnh, doanh thu giảm, nhưng nhờ đẩy được giá thu mua mủ cao su nguyên liệu đầu vào xuống thấp nên tổng lợi nhuận thực tế lại tăng lên.

Điển hình như Công ty cao su Tây Ninh, lãi trước thuế 6 tháng đầu năm gần 113 tỷ đồng, đạt 44% kế hoạch cả năm 2013. Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty này đạt hơn 93 tỷ đồng, cho dù hàng tồn kho của công ty lên mức gần 118,9 tỷ đồng.

Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình có tổng doanh thu quí 2/2013 là gần 107 tỉ đồng, giảm 20 tỉ đồng so với cùng kỳ. Tuy vậy, lợi nhuận thuần vẫn hơn 24 tỉ đồng, bằng lợi nhuận của quí 2/2012.

Công ty Cổ phần cao su Thống Nhất có doanh thu quí 2/2013 đạt gần 86 tỉ đồng, tăng 70% so với cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận ròng thu về hơn 17 tỉ đồng, tăng 200% so với cùng kỳ 2012…

Khối các doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ cao su càng thắng lợi nhờ giảm được chi phí nguyên liệu đầu vào. Trong quý 2/2013, giá cao su nguyên liệu đầu vào tiếp tục giảm 11% so với quý 1 và thấp hơn 18% so với cùng kỳ năm 2012 đã giúp lợi nhuận của các doanh nghiệp săm lốp đạt kết quả khả quan.

Báo cáo của Công ty Cổ phần Công nghiệp cao su miền Nam, tổng doanh thu quí 2/2013 đạt 834 tỉ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 100 tỉ đồng, tăng 29,5% so cùng kỳ.

Báo cáo của Công ty Cổ phần cao su Sao Vàng cho thấy, doanh thu bán hàng đạt gần 257 tỉ đồng, lợi nhuận đạt hơn 18 tỉ đồng, tăng gần 8 tỉ đồng so với quí 2/2013.

Từ đầu tháng 8 đến nay, thị trường cao su đã có dấu hiệu tăng giá trở lại. Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần trước, ngày 10/8, giá cao su RSS 3 trên sàn TOCOM Nhật Bản hợp đồng giao tháng 1/2014 đạt 2.700,8 USD/tấn (tăng 8,4% so với một tuần trước đó); giá SVR 3L Việt Nam đạt 2.305 USD/tấn (tăng 5,4%).

Tại sàn SICOM Singapore và Sở giao dịch MRB Malaysia đóng cửa hai ngày cuối tuần qua, giá TSR 20 hợp đồng tháng 9/2013 đạt 2.279 USD/tấn (tăng 1,7%) và giá SMR 20 đạt 2.288,5 USD/tấn (tăng 1,2%).

Nhập khẩu cao su của Trung Quốc cũng đã tăng vọt trở lại. Trong tuần từ 5/8 – 10/8/2013, giá cao su Việt Nam xuất khẩu tăng lên hai ngày cuối tuần. Kết thúc tuần, giá SVR 3L xuất khẩu ngày 10/8 đạt 2.305 USD/tấn, tăng 120 USD/tấn (5,5%) so với ngày 5/8 và ngày cuối tuần trước đó.

Trong khi giá xuất khẩu tăng trở lại thì giá thu mua mủ từ các vườn cao su lại đang tiếp tục giảm mạnh. Tại Bình Phước, giá thu mua mủ cao su dạng nước từ 13.280 đồng/kg cuối tháng 6 giảm xuống 11.680 đồng/kg vào đầu tháng 7, và đến ngày 12/8 chỉ còn 10.720 đồng/kg. Chỉ 10 ngày đầu tháng 8/2013, giá thu mua mủ dạng nước đã mất gần 1.000 đồng/kg.

Nghịch lý phân bố lợi nhuận trong chuỗi trồng trọt, sản xuất, chế biến, xuất khẩu của ngành cao su vẫn đang có xu hướng trầm trọng thêm. Hậu quả là, nông dân trồng cao su tiểu điền và các nông trường cao su không còn muốn đầu tư chăm sóc, sẽ đe dọa đến sự phát triển bền vững của ngành cao su.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Từ khoá: thị trường công ty cổ phần việt nam doanh nghiệp nông dân giá thành sản xuất gia bão lợi nhuận phát triển người lao động nông nghiệp xuất khẩu nông thôn doanh thu công ty cổ phần xúc tiến thương mại

Xe sang Anh đẩy mạnh đầu tư

Những diễn biến khả quan đang giúp ngành sản xuất xe của xứ sở sương mù khôi phục lại hào quang ngày nào.

Ngày 12.8, tờ The Wall Street Journal đưa tin các dòng xe sang trọng của Anh như Jaguar, Bentley, Rolls Royce đang ra sức đầu tư, thúc đẩy ngành xe hơi nước này phục hồi mạnh mẽ. Tiếc thay, sự “tái sinh” đó diễn ra khi mà hầu như các thương hiệu nổi tiếng của xứ sở sương mù chẳng còn thuộc về các doanh nghiệp nội địa.

Xe sang Anh đẩy mạnh đầu tư

Jaguar – Land Rover đang được đầu tư lớn để phát triển – Ảnh: Jaguar-Landrover

Bentley, được điều hành bởi Tập đoàn xe hơi Đức Volkswagen, vừa thông báo sẽ đầu tư 1,2 tỉ USD để sản xuất dòng xe SUV sang trọng tại cơ sở ở vùng Crewe, tây bắc nước Anh, góp phần tạo ra 1.000 việc làm mới. Trong khi đó, Jaguar – Land Rover, hiện thuộc Tập đoàn Tata của Ấn Độ, đang nhận từ 3 – 4,5 tỉ USD mỗi năm để mở rộng thương hiệu, bành trướng trên toàn cầu. Tên tuổi Mini, do BMW nắm giữ, cũng được công ty mẹ dự tính rót thêm khoản đầu tư trị giá 1,1 tỉ USD để chuẩn bị sản xuất những mẫu xe mới.

Với những kế hoạch đầu tư lớn, Jaguar – Land Rover tạo ra 9.000 việc làm mới tại xứ sở sương mù trong 2 năm qua. TờThe Wall Street Journal dẫn tin từ Hiệp hội Các nhà sản xuất và kinh doanh xe hơi Anh cho hay ngành công nghiệp xe hơi nước này có khoảng 140.000 nhân sự trực tiếp tham gia sản xuất. Thông qua các đầu tư mới nhất, có khoảng 19.000 việc làm mới đã được tạo ra trong 2 năm qua.

Tất nhiên, các thương hiệu xe sang trên chẳng phải tự dưng lại đi tăng cường đầu tư như thế. Hiện tại, kết quả xuất khẩu tăng nhanh đang giúp những hãng này đạt doanh thu cao. Cụ thể, cả Jaguar – Land Rover lẫn Bentley đều đạt mức xuất khẩu tăng 80%. Bentley đang nhắm đến mục tiêu đạt tổng lượng sản xuất khoảng 15.000 chiếc mỗi năm, từ con số 8.510 chiếc trong năm. Con số mục tiêu trên dựa trên các dự báo về nhu cầu tăng cao của những dòng xe sang. Tương tự, Rolls Royce cũng đang đạt nhiều triển vọng, với doanh số bán hàng đạt kỷ lục trong 3 năm qua.

Với những thành tích trên, ngành sản xuất xe của Anh hứa hẹn phát triển mạnh trong thời gian tới. Theo The Wall Street Journal, năm 2012, Anh xuất khẩu khoảng 1,2 triệu chiếc. Trong đó, số xe sang chiếm tỷ lệ 41% với con số cụ thể là 482.702 chiếc. Dự báo, đến năm 2015, số lượng xe sang sẽ chiếm 44,5%, tương đương 524.600 chiếc, trong tổng lượng xuất khẩu của ngành sản xuất xe hơi xứ sương mù.

Hoàng Đình

>> Nhiều mẫu xe mới tại Vietnam Motor Show 2011

>> PGO Motor công bố 4 mẫu xe mới

Từ khoá: bão việc làm doanh số bán hàng thương hiệu xuất khẩu

Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

USD vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. USD chỉ sa sút phong độ trong ngắn hạn. Và khi kinh tế Mỹ hồi phục, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

Box: Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

Trang 1 / 2

Đồng USD vẫn chưa thể bị thay thế trong dự trữ và thanh toán toàn cầu. Đó là ý kiến của ông Jonathan Larsen, Tổng Giám đốc phụ trách bán lẻ và thẻ tín dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Citi (Mỹ) trong cuộc phỏng vấn với NCĐT, nhân dịp ông đến TP.HCM dự lễ khai trương dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng Citi tại Việt Nam.

Ông nghĩ gì về việc đồng USD đang yếu đi?

Hãy còn quá sớm để cho rằng đồng USD đã yếu thế. Trong quá khứ, đồng tiền này cũng từng nhiều lần gặp khó khăn nhưng rồi đã vươn lên lại. Hiện tại, đây vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. Vì vậy, nhu cầu sử dụng USD luôn ở mức cao. Và một khi kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ phục hồi, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

USD sẽ xuống giá đến mức nào trong tình hình hiện nay?

Trong ngắn hạn, USD có thể yếu đi vì Mỹ đang thâm hụt ngân sách hơn 1.400 tỉ USD. Nhưng USD yếu lại có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Mỹ.

Có nguồn tin cho rằng, các nước vùng Vịnh cùng Nga, Pháp, Trung Quốc và Nhật Bản muốn dùng đồng tiền khác dựa trên một rổ tiền tệ bao gồm đồng yên, euro, nhân dân tệ và một đồng tiền chung của vùng Vịnh (sẽ được tạo ra) để thay thế USD trong buôn bán dầu lửa. Theo ông, việc này có thể thành hiện thực hay không?

Đây là điều khó có thể xảy ra. Thứ nhất, USD vẫn là đồng tiền mạnh. Hơn nữa, rất ít quốc gia muốn biến đồng nội tệ của mình thành đồng tiền sử dụng trong thương mại toàn cầu và đồng tiền dự trữ của nước khác.Như vậy, họ sẽ phải chịu nhiều áp lực trong quan hệ kinh tế, thương mại, có thể gây tổn hại đến quyền lợi của quốc gia.

Nhưng họ cũng có thể tạo ra một đồng tiền quốc tế dựa trên đơn vị tiền tệ quy ước (SDR) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như đề nghị của Trung Quốc hồi tháng 3 vừa qua?

Một số nước từng trao đổi với nhau về khả năng này. Nhưng đây là điều khó thực hiện được, dẫu trong dài hạn.

Có phải khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự chấm dứt?

Câu trả lời là chưa có gì chắc chắn, mặc dù chúng ta đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Về thực chất, cuộc khủng hoảng đã diễn ra trong 3 giai đoạn, bắt đầu từ Mỹ rồi lan ra toàn cầu. Giai đoạn thứ nhất là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu do chứng khoán phái sinh có gốc bất động sản bị rớt giá nghiêm trọng, khiến nhà đầu tư mất niềm tin vào các định chế tài chính. Tiếp đến là tiêu dùng bị xuống dốc, chủ yếu do siết chặt tín dụng tiêu dùng.

Giai đoạn 1 nay đã qua rồi. Thị trường chứng khoán đã phục hồi và nhà đầu tư đã lấy lại niềm tin đối với một số công cụ tài chính. Nhưng giai đoạn 2 thì vẫn chưa chấm dứt, mới qua được điểm đỉnh mà thôi; nhiều người vẫn bị phá sản, không trả được nợ vay ngân hàng. Gần đây, các ngân hàng đã bớt thắt chặt tín dụng, cho giãn thời hạn thanh toán. Vì thế, mặc dù rủi ro vẫn còn, nhưng giai đoạn 2 của cuộc khủng hoảng đã lắng dịu.

Tuy nhiên, giai đoạn 3 của cuộc khủng hoảng vẫn đang diễn ra trong khu vực bất động sản thương mại. Tình trạng các khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn bị đóng cửa, đặc biệt là ở Mỹ, vẫn diễn ra thường xuyên. Các bất động sản này đang xuống giá, nên có một số nhà đầu tư nhảy vào lĩnh vực này để nắm bắt cơ hội mua tài sản với giá rẻ. Nhưng nói chung, đây vẫn là khu vực nhạy cảm.

Tin vui là nền tài chính thế giới đã ổn định trở lại. Các ngân hàng lớn trên thế giới không còn đối mặt với tình trạng thiếu vốn nữa, dẫu chưa phải tất cả đã bình thường.

Ông có cho rằng sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng mới nữa như cảnh báo của một số nhà kinh tế?

Tôi không nghĩ như họ. Đừng quên là ngân hàng trung ương các nước đều chống lưng cho các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và cho cả hệ thống tài chính.

Nhà đầu tư đang rất hồ hởi trước sự phục hồi của kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế châu Á. Có thể lạc quan như vậy không, thưa ông?

Nhà đầu tư hồ hởi cũng đúng thôi. Lấy ví dụ về nền kinh tế Singapore. Đây là nền kinh tế hướng đến xuất khẩu, giống như nhiều nền kinh tế châu Á khác. Giá trị xuất khẩu của Singapore tương đương 250% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và quý I năm nay, xuất khẩu của đảo quốc này đã giảm đến 40% so với cùng kỳ năm 2008, khiến tăng trưởng GDP bị âm.

Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng trở lại đây, các hoạt động kinh tế của Singapore đã nhộn nhịp trở lại, đặc biệt là trong ngành điện tử. Một phần là do nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc gia tăng nhờ gói kích cầu khổng lồ 586 tỉ USD của Chính phủ. Hoạt động nhập khẩu của châu Âu phục hồi (nhờ vào các chương trình kích thích kinh tế của các chính phủ) cũng góp phần vào sự phục hồi của Singapore.

Nhưng đâu là nhu cầu lớn nhất của thế giới?

Đây là điều cần phải xem xét cẩn thận. Cần biết rằng, Mỹ là nền kinh tế trị giá 14.000 tỉ USD mà 70% trong số đó là tiêu dùng. Người Mỹ thì mua hàng của cả thế giới, nhưng nay lại gia tăng tiết kiệm. Cần phải có thời gian để nhu cầu tiêu dùng ở Mỹ phục hồi. Tôi lạc quan trong ngắn hạn đối với tăng trưởng của một số nền kinh tế châu Á, nhưng về dài hạn thì cần phải theo dõi thêm. Phát triển có bền vững hay không mới là quan trọng.

Trang12Trang kế tiếp

Từ khoá: kinh tế thế giới thế giới kinh tế nhu cầu tiêu dùng khủng hoảng trung quốc ngân hàng tín dụng xuất khẩu singapore tài chính động sản gia thanh toán nhu cầu tiêu dùng tổng giám đốc bất động sản thị trường chứng khoán nền kinh tế chứng khoán toàn cầu

Thủ tướng New Zealand: Fonterra đã cảnh báo chậm

Ngày 5/8, Thủ tướng New Zealand John Key đã mạnh mẽ chỉ trích tập đoàn sữa Fonterrra của nước này quá chậm trễ trong việc đưa ra cảnh báo về các sản phẩm nhiễm vi khuẩn có thể gây ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng.

Theo ông John Key, khó hiểu tại sao Fonterra không hành động ngay lập tức khi kết quả xét nghiệm hồi năm ngoái cho thấy ba lô hàng sữa protein cô đặc (whey protein concentrate – WPC) có vấn đề.

Phát biểu trên Đài phát thanh New Zealand, Thủ tướng nước này cho biết chính phủ có một đội ngũ hơn 60 nhân sự đang nỗ lực hạn chế hậu quả của vụ việc và sẽ kiểm tra kỹ lưỡng cách thức Fonterra xử lý cuộc khủng hoảng này.

Thủ tướng John Key bày tỏ lo ngại vụ việc sẽ ảnh hưởng đến uy tín của New Zealand là một nguồn cung cấp các sản phẩm sữa “xanh, sạch,” đặc biệt ở châu Á nơi sản phẩm sữa công thức trẻ em từ quốc gia này được đánh giá có tiêu chuẩn cao.

Xuất khẩu các sản phẩm sữa là nguồn thu chủ yếu của New Zealand. Theo số liệu của Chính phủ New Zealand, ngành sữa đóng góp tới 2,8% cho GDP nước này và chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu với tổng trị giá 10,4 tỷ đôla New Zealand (NZD), tương đương 8,1 tỷ USD, mỗi năm.

Fonterra là tập đoàn xuất khẩu các sản phẩm sữa lớn nhất thế giới với doanh thu 19,8 tỷ NZD (tương đương 15,5 tỷ USD) trong năm tài khóa 2012

Tuy nhiên, uy tín của Fonterra đang trong “tâm bão” sau khi ngày 4/8, tập đoàn này thừa nhận ba lô WPC sản xuất hồi tháng 5/2012 bị nhiễm khuẩn Clostridium Botulinum sản sinh ra độc tố gây tổn hại thần kinh.

[Rà soát vụ nhập khẩu sữa Karicare nghi nhiễm khuẩn]

Các triệu chứng ngộ độc do vi khuẩn này bao gồm nôn mửa và đi ngoài, sau đó có thể dẫn tới bị liệt, thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Các lô WPC trên đã được chế biến thành 870 tấn sản phẩm nhiều loại khác nhau từ sữa công thức trẻ em đến đồ uống thể thao tại nhiều thị trường, cụ thể là xuất khẩu qua Australia, Trung Quốc, Malaysia, Arập Xêút, Thái Lan và Việt Nam.

Fonterra nói rằng chưa có trường hợp nào bị bệnh do sử dụng các sản phẩm nhiễm khuẩn và tập đoàn này lý giải việc nhiễm khuẩn là do một đường ống bẩn tại một nhà máy chế biến.

Đã sớm có những tác động đầu tiên của vụ việc. Cổ phiếu của Fonterra khi thị trường chứng khoán New Zealand mở cửa ngày 5/8 đã rớt giá tới 8,7% và dù sau đó có phục hồi đôi chút nhưng đến giữa ngày vẫn giảm 5,9% giá trị. Nhiều thị trường nhanh chóng đưa ra phản ứng.

Theo nguồn tin từ Bộ Thương mại New Zealand, Trung Quốc đã ngừng nhập khẩu sữa bột của nước này và các nhà nhập khẩu WPC nhiễm khuẩn bắt đầu thu hồi những sản phẩm liên quan.

Nga cũng tiến hành thu hồi các sản phẩm sữa của Fonterra đồng thời khuyến cáo người tiêu dùng nước này không sử dụng./.

(TTXVN)

Từ khoá: new zealand thị trường chứng khoán tập đoàn xuất khẩu gia người tiêu dùng thủ tướng thị trường sản phẩm

Trung Quốc ngừng nhập sữa bột từ New Zealand

Trung-Quoc-ngung-nhap-sua-bot-tu-New-Zealand.jpg

TIN LIÊN QUAN

  • Trung Quốc điều tra thao túng giá sữa bột ngoại (02/07)
  • Thế giới tiếp tục lao đao trước cơn khát sữa bột trẻ em của Trung Quốc (10/05)

Trung Quốc cấm nhập khẩu mọi loại sữa bột New Zealand sau khi phát hiện một loại vi khuẩn có thể gây ngộ độc trong một số sản phẩm sữa.

Lệnh cấm trên được đưa ra sau khi tập đoàn xuất khẩu sữa toàn cầu Fonterra của New Zealand cho biết một số sản phẩm sữa xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc sử dụng công thức có thể chứa 1 loại vi khuẩn dễ dẫn tới các loại bệnh gây tử vong.

Bộ trưởng thương mại New Zealand Tim Groser khẳng định công bố của Fonterra vô cùng nghiêm trọng bởi các sản phẩm sữa mà hãng này xuất khẩu không chỉ có ở Trung Quốc, mà còn xuất sang của Australia, Malaysia, Ả rập Xê út, Thái Lan và Việt Nam.

Nhận định về việc Trung Quốc ngừng nhập sữa bột của New Zealand, bộ trưởng thương mại nước này Tim Groser cho rằng lệnh cấm “hoàn toàn phù hợp”. “Theo ý tôi, các nhà chức trách Trung Quốc hoàn toàn đúng khi ngừng nhập các sản phẩm sữa bột có xuất xứ từ New Zealand”, ông Groser cho hay.

Fonterra hiện là hãng xuất khẩu sữa lớn nhất thế giới, với doanh thu 19,8 tỷ USD trong năm tài chính 2012.

Trong khi đó, mặc dù không chính thức công bố lệnh cấm nhập khẩu, song Cục quản lý thuốc và thực phẩm Trung Quốc đã có cuộc gặp với các quan chức từ 3 công ty nhập khẩu các sản phẩm của Fonterra, hướng dẫn họ “ngay lập tức ngừng bán và thu hồi tất cả các sản phẩm thực phẩm được sản xuất bằng những nguyên liệu có vấn đề”.

Tuy nhiên, lệnh cấm của chính phủ Trung Quốc làm dấy lên lo ngại có thể gây tình trạng thiếu hụt sữa bột nghiêm trọng, bởi 95% sữa bột nhập khẩu tại Trung Quốc có xuất xứ từ New Zealand.

Hãng tin Tân Hoa Xã hôm qua 4/8 cũng cho biết 4 công ty nhập khẩu sữa từ Fonterra đã thu hồi và niêm phong các sản phẩm của New Zealand để ngăn chặn trước các hiểm họa về sức khỏe.

Nguồn AFP/Dân Việt

Từ khoá: new zealand xuất khẩu sản phẩm trung quốc

Bi kịch cuộc sống của những góa phụ ảo ở Ấn Độ

GiadinhNet – Cưới vội, có thai ngay trong tuần trăng mật rồi tiễn chồng đi làm ăn ở nước ngoài, hàng nghìn phụ nữ Ấn Độ đang ngày đêm vò võ mong ngày vợ chồng được đoàn tụ. Nhưng các ông chồng vẫn biền biệt nhiều năm ở nước ngoài, để lại quê nhà những cô vợ trẻ đang sống như những góa phụ.

Bi kịch cuộc sống của những
Những người phụ nữ bất hạnh có chồng xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Ảnh minh họa

Hiện trạng đáng báo động này đang gây nhiều hệ lụy xã hội tại một trong những bang giàu có nhất Ấn Độ.

Những “hòn vọng phu” thời hiện đại

Trong một ngôi làng ven biển tại bang miền nam Kerala của Ấn Độ, những người phụ nữ đang nhảy múa và ca hát chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ trong ngày thành hôn của họ. Trên gương mặt của cô dâu 15 tuổi, khách khứa dễ dàng nhận thấy nét u buồn không thể che giấu. Bản thân những người có mặt cũng cảm thấy ái ngại thay cho cô bé, bởi họ biết rằng, những ngày hạnh phúc được ấp má kề vai bên chồng mới cưới của cô sẽ sớm chấm dứt. Người chồng phải sang một nước vùng Vịnh nào đó để làm việc, để lại cô vợ trẻ vò võ ở quê nhà. Đội ngũ những cô dâu tuổi teen sống cô đơn của Kerala lại chuẩn bị đón nhận thêm một thành viên mới.

Kerela là một bang không hề nghèo của Ấn Độ, trái lại, nơi đây còn có chỉ số kinh tế – xã hội cao hơn hẳn nhiều bang khác. Tỷ lệ biết chữ của người dân lên tới hơn 90%, cao nhất cả nước. Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, học sinh bỏ học, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn… luôn ở mức thấp. Người dân bang Kerela cũng được coi là có tuổi thọ trung bình cao và có chất lượng cuộc sống đáng thèm muốn so với nhiều bang nông thôn khác. Thế nhưng, tất cả những thành tựu này lại không đến từ nguồn lực của chính địa phương. Trái lại, Kerela cũng là bang có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 15%, cao gấp 3 lần tỷ lệ chung của cả Ấn Độ. Chính lượng kiều hối hàng tỷ USD mỗi năm mà những người con xa xứ của bang này gửi về đã giúp duy trì nền kinh tế của quê nhà. Theo thống kê của chính phủ nước này, có tới gần 50% nam giới ở độ tuổi trưởng thành của bang này đang đi lao động xuất khẩu ở các nước vùng Vịnh, bên kia biển Ả rập. Phần lớn họ đều đã kịp cưới vợ trước khi cất bước ra đi, một số thì tranh thủ cưới trong những lần về nghỉ phép năm giữa thời hạn hợp đồng. Những người chồng, người cha đi vắng biền biệt vài năm trời này đã để lại “hậu phương” cả một cộng đồng rất lớn các cô vợ trẻ đang được biết đến với cái tên chung đầy cay đắng – những “góa phụ ảo”.

Vật chất, tiền bạc gửi về không bù đắp được nỗi cô đơn, sự thiếu thốn tình cảm của những người vợ, nhất là khi tuổi đời của họ còn rất trẻ. Ông Sujatha, một quan chức cấp cao của chính phủ Ấn Độ cho biết, nhiều đám cưới được tổ chức một cách vội vã khi chú rể về nước thăm nhà. Thông thường, mỗi đợt nghỉ phép như vậy chỉ từ 15 đến 20 ngày. Đó cũng là khoảng thời gian mặn nồng dài nhất dành cho các đôi vợ chồng mới cưới. Sau đó, đám đàn ông lại ra đi, và theo thông lệ, phải khoảng 2 đến 3 năm sau, họ mới lại được hưởng một kỳ nghỉ phép tiếp theo. Theo tập tục truyền thống, các cô gái ở đây bị cha mẹ ép lấy chồng từ rất sớm, từ khi mới 15 – 16 tuổi, mặc dù độ tuổi hợp pháp để kết hôn là 18. Đôi vợ chồng nào cũng cố gắng có con ngay trong những ngày vàng ngọc ngắn ngủi sau lễ cưới, và thời gian 2 tuần đủ để họ làm được điều ấy. Kết quả là số cô dâu – bà mẹ tuổi teen sống xa chồng của bang Kerela cũng cao nhất cả nước, tương ứng với tỷ lệ đi làm ăn xa của chồng họ. Các nhà hoạt động xã hội đã gọi đây là những “góa phụ ảo” bởi họ có chồng mà cứ như những góa phụ thực sự vậy. Sự xa cách kéo dài này đang gây nhiều hệ lụy xấu về mặt xã hội, mà không ai khác, chính các “góa phụ ảo” và những đứa trẻ từ lúc được sinh ra vẫn chưa biết mặt cha, đang là nạn nhân trực tiếp.

Sajida mới 22 tuổi nhưng đã kết hôn cách đây bảy năm và hiện đang một mình nuôi đứa con trai sáu tuổi. Cô mang thai trong vòng 15 ngày sau đám cưới, người chồng sang Kuwait làm việc sau thời gian đó và chưa một lần về thăm vợ con. Một trường hợp khác là Ayesha, 18 tuổi, đã kết hôn hai năm trước. Toàn bộ tiền mặt và vàng mà cha mẹ cô cho làm của hồi môn đã được người chồng sử dụng để tìm việc tại một nước vùng Vịnh. “Kể từ khi anh ấy ra đi, chúng tôi không còn liên lạc gì với nhau nữa” – Ayesha buồn bã nói. Bố chồng của cô, ông Abdhul Kareem thì tiết lộ với phóng viên rằng, từ vài tháng nay Ayesha bắt đầu có dấu hiệu bị trầm cảm. Việc các “góa phụ ảo” đang chịu tổn thương tâm thần không còn là chuyện cá biệt của một vài người thiếu bản lĩnh nữa, mà hiện tượng này đang gia tăng một cách chóng mặt, khiến chính quyền phải vào cuộc. Hàng loạt các chuyên gia y tế – chủ yếu là các bác sĩ tâm lý – đã được chính phủ điều động về bang này để tư vấn tâm lý cho các cô vợ trẻ bị trầm cảm. Bác sĩ Ramlath, một chuyên gia như vậy cho biết, mỗi ngày cô tiếp khoảng 10 bệnh nhân, tất cả đều là nữ giới trẻ tuổi đang có chồng lao động ở nước ngoài từ nhiều năm nay. “Những cô gái này không được chuẩn bị để sống cuộc sống cô đơn này. Họ đang đau khổ cả về tinh thần lẫn thể chất, và rất cần được giúp đỡ” – Ramlath cho biết. Tuy nhiên, vị bác sĩ tâm lý này cũng thừa nhận rằng, chuyên môn của cô chỉ có thể xoa dịu phần nào những vết thương lòng cho các “góa phụ ảo”. Chỉ khi chồng họ trở về, hiện tượng xã hội tiêu cực này mới có thể bị chặn đứng.

“Hội chứng vùng Vịnh”

Đó là cái tên mà các phương tiện truyền thông Ấn Độ sử dụng mỗi khi nhắc đến các hệ lụy xã hội của việc thiếu vắng đàn ông ở bang Kerela. “Góa phụ ảo” chỉ là một trong số những hậu quả xấu mà tình trạng này đem lại. “Hội chứng vùng Vịnh” còn là sự đổ vỡ của các cuộc hôn nhân vội vã, mang đậm yếu tố “duy trì nòi giống” kết hợp với tập tục tảo hôn chứ không hoàn toàn xuất phát từ tình yêu đích thực giữa các cặp vợ chồng. Do đó, không khó hiểu khi tỷ lệ ly hôn tại bang này tăng vọt trong những năm gần đây. Người chủ động đâm đơn không ai khác, chính là các “góa phụ ảo”. Họ không thể chịu đựng được cảnh phải làm “hòn vọng phu” trong vô vọng, nên đã quyết định dứt tình để đi tìm hạnh phúc mới với những người đàn ông có thể ở bên họ hàng ngày. Không ai muốn làm góa phụ, mà cuộc sống của họ thì chẳng khác nào những góa phụ thực sự. Nhiều người không ly hôn, nhưng lại tìm cách bù đắp sự thiếu thốn tình cảm bằng cách quyến rũ, ngoại tình với những người đàn ông khác ở quê nhà, kể cả khi họ đã có vợ. Cơ quan cảnh sát Kerela cho biết, những vụ đánh ghen thường xuyên xảy ra, mà “kẻ thứ ba” đa phần là các cô vợ trẻ có chồng đang đi xuất khẩu lao động. Trong khi đó, tại trường học, các giáo viên cũng kêu trời vì một thế hệ học trò mới – những đứa trẻ vắng cha. Thiếu vắng sự dạy bảo nghiêm khắc của người đàn ông trong gia đình, lứa trẻ này tỏ ra bướng bỉnh, ngỗ ngược hơn hẳn những lớp trước.

Trước tình trạng đáng lo ngại này, đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi cần phải can thiệp đến tận gốc rễ vấn đề, để ngăn chặn “hội chứng vùng Vịnh”. Jamat-e-Islami Hind, một tổ chức chính trị cánh hữu của cộng đồng Hồi giáo tại Kerela đã mở chiến dịch tuyên truyền, vận động để hạn chế những đám cưới vội vã như thế. Tình nguyện viên của tổ chức này đi đến cả nhà trai lẫn nhà gái, thuyết phục họ không nên đẩy con em mình vào cảnh chia li sau đám cưới. Nhưng điều này gặp nhiều khó khăn. Đa phần nhà trai đều muốn con mình có vợ trước khi đi xa, nếu kịp để lại một đứa con thì càng tốt. Thậm chí, nhiều người phải trông chờ vào khoản tiền từ của hồi môn mới có đủ kinh phí để đi xuất khẩu lao động. Ngược lại, nạn tảo hôn cũng khiến nhiều nhà gái nhắm mắt gả con khi còn ít tuổi, dù biết rằng chỉ sau đó ít ngày, con mình sẽ trở thành một “góa phụ ảo”. Chính sự gặp nhau của “nhu cầu” giữa hai bên này đã khiến việc vận động của các tình nguyện viên gặp rất nhiều khó khăn.

Ông Nasiruddeen Alungal, một thành viên của Jamat-e-Islami Hind cho biết, trước quan điểm lạc hậu “thâm căn cố đế” không dễ gì thay đổi trong một sớm một chiều này, hiện tổ chức của ông đã chuyển hướng hành động. Một mặt vẫn vận động tạm dừng những đám cưới như trên, nhưng mục tiêu chính trong giai đoạn tiếp theo sẽ là kêu gọi đám đàn ông chịu khó tìm việc ngay tại Ấn Độ. Nếu sang các nước vùng Vịnh, họ sẽ bị chủ sử dụng lao động thu giữ hộ chiếu, và khi đó, việc về thăm gia đình là hoàn toàn phụ thuộc vào các ông chủ này. Chỉ đến khi hết hạn hợp đồng – thường kéo dài khoảng 5-7 năm, họ mới lại được cầm thứ giấy tờ quan trọng này của mình trên tay để trở về nhà một cách tự do. Trong khi đó, nếu làm việc ngay tại đất nước mình, thì dù có phải đi xa, đến những bang khác, thì cơ hội về thăm vợ con của họ hàng năm, thậm chí hàng tháng là không có gì khó khăn.

Trong một động thái mới nhất, chính phủ Ấn Độ tuyên bố sẽ thúc đẩy đầu tư các nhà máy, xí nghiệp tại Kerela để giữ chân lao động địa phương. Xem ra, chỉ khi nào nam giới bang này hết cảnh tha phương cầu thực nơi xứ người mới có thể chấm dứt được “hội chứng vùng Vịnh” cũng như xóa sổ đội ngũ “góa phụ ảo” ở đây.

Trần Thanh(Theo BBCNewsIndia)

Từ khoá: xuất khẩu gia nền kinh tế đàn ông chính phủ lao động khó khăn

Giá dầu thô tăng mạnh nhất 3 tuần do sản xuất tăng trưởng

dau-1.jpg

TIN LIÊN QUAN

  • Giá dầu thô xuống thấp nhất gần 4 tuần (31/07)
  • Sản lượng dầu OPEC xuống thấp nhất 4 tháng do đình công ở Libya (01/08)
  • Giá dầu thô có tháng tăng mạnh nhất gần 1 năm (01/08)

Giá dầu thô tăng sau số liệu sản xuất của Mỹ và Trung Quốc tăng cộng với nguồn cung gián đoạn tại Libya do đình công lớn của công nhân.

Trên sàn Nymex, giá dầu thô giao tháng 9 tăng 2,86 USD tương đương 2,7%, chốt phiên tại 107,89 USD/thùng, ghi nhận phiên tăng mạnh nhất từ 10/7 và mức giá cao nhất từ ngày 19/7. Khối lượng giao dịch cao hơn 16% so với trung bình 100 ngày. Giá dầu đã tăng 8,8% trong tháng 7, tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 8 năm ngoái.

Giá dầu Brent giao tháng 9 tại sàn ICE tăng 1,84 USD, chốt phiên tại 109,54 USD/thùng. Chênh lệch giá dầu Brent và dầu WTI thu hẹp từ 2,67 USD/thùng xuống còn 1,65 USD/thùng.

Giá dầu tăng do Viện quản lý cung Mỹ mới thông báo chỉ số sản xuất Mỹ tăng từ 50,9 điểm trong tháng 6 lên 55,4 điểm tháng 7, vượt dự báo 52 điểm của các chuyên gia Bloomberg. Tổng cục Thống kê Trung Quốc cũng mới công bố chỉ số sản xuất Trung Quốc tăng lên 50,3 điểm tháng trước, cao hơn nhiều dự báo các chuyên gia và con số sơ bộ HSBC cung cấp.

Mỹ và Trung Quốc là 2 nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 1/3 nhu cầu toàn thế giới năm 2012. Sản xuất tăng trưởng tại 2 nước này góp phần hỗ trợ đáng kể triển vọng cầu tiêu thụ dầu thời gian tới.

Giá dầu tăng còn do lo ngại nguồn cung gián đoạn tại Libya. Do đình công lớn, tất cả các cảng xuất khẩu dầu của Libya trừ cảng Zawiya sẽ phải đóng cửa, giảm lượng xuất khẩu khoảng 1,1 triệu thùng dầu/ngày từ nước có trữ lượng dầu lớn nhất châu Phi. Xuất khẩu nước này đạt khoảng 1,425 triệu thùng dầu/ngày hôm 30/7, số liệu do Bộ trưởng dầu khí Libya cung cấp.

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu (OPEC) giảm cung ra thị trường tháng thứ 2 liên tiếp chủ yếu do sự sụt giảm mạnh của Libya. Thông qua khảo sát của Bloomberg, sản lượng dầu các nước OPEC tháng 7 giảm 245.000 thùng/ngày tương đương 0,8% xuống 30,662 triệu thùng/ngày.

Giá dầu thế giới 2/8

Nguồn Dân Việt/Bloomberg

Từ khoá: gia xuất khẩu opec đình công xuất khẩu dầu trung quốc bão