VAMC được hưởng 2% trên số tiền thu hồi nợ

Với thời gian xử lý dự kiến là 5 năm, mức thu hàng năm của công ty quản lý tài sản (VAMC) là khoảng 60 – 160 tỷ đồng, đủ bù đắp các chi phí liên quan hàng năm của đơn vị.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa xin ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với Dự thảo Thông tư Quy định về việc mua, bán, xử lý nợ xấu của công ty Quản lý tài sản (VAMC) của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Theo đó, tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho VAMC. Trường hợp tổ chức tín dụng không bán nợ cho VAMC, Ngân hàng Nhà nước xem xét, áp dụng các biện pháp đặc biết theo quy định, đồng thời yêu cầu tổ chức tín dụng phải bán nợ cho VAMC.

Đồng tiền sử dụng trong mua bán nợ giữa VAMC và các tổ chức tín dụng là đồng Việt Nam. Trường hợp VAMC sử dụng trái phiếu đặc biệt mua khoản nợ bằng USD thì tỷ giá quy đổi là tỷ giá bình quân liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước công bố; với khoản nợ bằng ngoại tệ không phải USD thì tỷ giá quy đổi là tỷ giá được tổ chức tín dụng bán nợ hạch toán trên sổ sách kế toán tại thời điểm mua, bán nợ.

Tổ chức tín dụng có nợ xấu chiếm 3% tổng dư nợ phải bán lại các khoản nợ này cho VAMC.

VAMC chỉ mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt nếu đó là khoản nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; khoản mua hoặc ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết do tổ chức mua đã quá hạn thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc chưa quá hạn hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu có nợ xấu tại tổ chức tín dụng;

Ngoài ra, các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản, trong đó không dưới 65% tổng giá trị tài sản bảo đảm là bất động sản; khoản nợ, tài sản bảo đảm phải hợp pháp; chưa được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ khác của tổ chức tín dụng và không có tranh chấp cũng có thể được chấp nhận mua bằng trái phiếu đặc biệt.

Để VAMC mua nợ thì khách hàng vay nhất thiết phải tồn tại; có số dư nợ gốc vào thời điểm bán nợ không thấp hơn 3 tỷ đồng đối với khách hàng vay là tổ chức và không thấp hơn 1 tỷ đồng đối với khách hàng vay là cá nhân. Đối với các khoản nợ không đáp ứng đủ các điều kiện trên thì Thủ tướng sẽ quyết định việc mua nợ để đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng và xử lý nhanh nợ xấu.

Khoản nợ được VAMC mua nợ theo giá thị trường phải đáp ứng đủ các yêu cầu của VAMC; phải được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ; khoản nợ có khả năng phát mại; Khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ.

Sau khi mua các khoản nợ của tổ chức tín dụng, VAMC có trách nhiệm điều chỉnh mức lãi suất đang áp dụng đối với khoản nợ đã mua về mức không cao hơn mức lãi suất cho vay bình quân tương ứng theo từng kỳ hạn của các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Nếu phương án tự cơ cấu lại của khách hàng vay hiệu quả và khả thi, VAMC sẽ quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn thời hạn trả nợ phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh và kế hoạch trả nợ của khách hàng vay.

Trong trường hợp đánh giá phương án tự cơ cấu lại của khách hàng vay hiệu quả và khả thi nhưng đang gặp khó khăn tạm thời về tài chính, VAMC quyết định việc giảm hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa có khả năng trả nợ.

VAMC có thể bán nợ đã mua hoặc chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp. Trong thời gian chưa xử lý, bán tài sản bảo đảm, việc quản lý, khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ tài sản bảo đảm do VAMC và bên bảo đảm thỏa thuận theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn của trái phiếu đặc biệt, tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro đối với trái phiếu đặc biệt vào chi phí hoạt động hàng năm. Sau thời hạn 3 năm kể từ ngày xử lý khoản nợ theo quy định và sau khi đã thực hiện tất cả các biện pháp để thu hồi nợ nhưng không thu hồi được, tổ chức tín dụng được xuất toán nợ đã xử lý rủi ro ra khỏi ngoại bảng.

VAMC được hưởng tỷ lệ 2% trên số tiền thu hồi các khoản nợ được mua bằng trái phiếu đặc biệt. Số tiền thu hồi nợ được VAMC gửi tại tổ chức tín dụng bán nợ dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn và không được rút trước thời điểm thanh toán trái phiếu. Dự kiến, thông tư này sẽ có hiệu lực từ ngày 9/7.

Theo Tri Thức trẻ

Từ khoá: bão doanh nghiệp khách hàng tài sản chi phí hoạt động vốn điều lệ trích lập dự phòng thời hạn nhà nước quyết định việt nam mua bán thanh toán gia tín dụng bất động sản quy định ngân hàng

PXL đại hội cổ đông lần 1 bất thành

Dự kiến PXL sẽ tổ chức Đại hội cổ đông lần 2 vào ngày 14/6.

Sáng ngày 13/06/2013, Công ty Cổ phần Xây dựng Thương Mại Dầu khí (PXL) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 tại Hà Nội.

Tổng số cổ đông tham dự và được ủy thác tham dự chiếm 26% tổng số phiếu có quyền biểu quyết, nhỏ hơn yêu cầu tối thiểu là 65%. Vì vậy, đại hội không đủ điều kiện tiến hành theo quy định của Luật Doanh Ngiệp và Điều lệ tổ chức hoạt động công ty.

PXL dự kiến sẽ tổ chức đại hội cổ đông thường niên năm 2013 lần 2 vào 8h ngày 14/6/2013.

Năm 2012, tổng doanh thu và thu nhập khác của PXL đạt 122,3 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế và trích lập dự phòng đạt 10,7 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 0,2 tỷ đồng.

Năm 2013, PXL đặt mục tiêu năm 2013 đạt 223,58 tỷ đồng doanh thu, 10,64 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng gấp 56 lần so với mức thực hiện năm 2012.

Nguồn Dân Việt

Từ khoá: trích lập dự phòng lợi nhuận công ty cổ phần

Ngân hàng có hưởng lãi khủng

ANTĐ – Vấn đề được dư luận quan tâm trong thời gian vừa qua là việc hàng loạt ngân hàng giảm lãi suất huy động xuống mức 6%/năm. Trong khi đó mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức 12-13%. Nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng đang hưởng chênh lệch quá lớn, như vậy là bất hợp lý.

Không phải đến bây giờ, vấn đề chênh lệch lãi suất mới được đem ra bàn luận. Lâu nay, lãi suất huy động và cho vay luôn có một khoảng cách rất lớn. Hiện tại, các ngân hàng thương mại huy động kỳ hạn ngắn 6-7,5%/năm, cho vay là 12-13%/năm, còn kỳ hạn dài hạn huy động 9,5-10% và cho vay 14-16%/năm. Như vậy mức chênh lệch là 5-6% cho kỳ hạn ngắn và 4,5-5% cho kỳ hạn dài. Tại cuộc hội thảo về tín dụng, lãi suất mới được tổ chức vừa qua tại Ngân hàng Nhà nước, chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng chênh lệch lãi suất các ngân hàng thu về lên tới 6% là bất hợp lý. Theo ông Hiếu, nếu các ngân hàng làm tốt thì biên độ lợi nhuận ròng nên ở mức 2%, thậm chí có ngân hàng 1% và có ngân hàng 0%. Mức chênh 6% do ngân hàng hoạt động không lành mạnh với chủ yếu là nợ xấu.

Theo cơ quan thanh tra giám sát (Ngân hàng Nhà nước), năm 2012, các ngân hàng hưởng chênh lệch khoảng 20.000 tỷ đồng từ số lãi thu về do cho vay ra là 420.000 tỷ đồng và tiền lãi trả cho huy động 408.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng thực sự ngân hàng không lãi lớn như thế. TS Nguyễn Đức Trung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học ngân hàng cho rằng: Tại thời điểm hiện tại, mức chênh lệch trung bình chỉ khoảng 2%. Không có chuyện ngân hàng được hưởng mức chênh lệch “khủng” 5-7%, như dư luận đồn đoán. Nếu chênh lệch cao như vậy, cả xã hội đã đổ xô đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng. Chúng tôi đã tổng hợp số liệu chênh lệch lãi suất huy động – cho vay của một số ngân hàng trong nhiều năm qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính trung bình lãi suất huy động và cho vay, chênh lệch lãi suất thời điểm cao nhất cũng chỉ 3,5%. Riêng trong năm 2012, mức chênh lệch bình quân là gần 2,2%.

Về phía các ngân hàng cũng cho rằng không hề có chuyện lãi lớn như thế. Ông Nguyễn Tiến Đông, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chia sẻ chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào tại ngân hàng này trên lý thuyết là hơn 4%, chưa bao gồm trích lập dự phòng rủi ro và một số biện pháp khác. Hiện tại lãi suất cho vay ở ngân hàng này bình quân là 12%/năm, có khoản chỉ 8-10% nhưng cũng có khoản 11-13%, và chỉ thu được khoảng 80% trong số này. Còn lại, doanh nghiệp bị đọng, không trả được. Ngược lại, lãi suất huy động phải đến đầu tháng 9 năm nay mới trả hết các khoản đã huy động trước đó 12%/năm, do đó, mức 7,5% trần hiện nay không thực tế trong bản cân đối kế toán của ngân hàng mà chỉ là số liệu “nghe tưởng chừng như vậy”.

TS Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Kinh tế, Đại học Ngân hàng TP.HCM: Lãi suất như thế là quá hợp lý

– Những ngày gần đây, lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng đã giảm mạnh xuống 6%/năm. Tuy nhiên mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức 12-13% hoặc cao hơn. Nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng đang lãi lớn. Ông có bình luận gì về vấn đề này?

– Chúng ta phải nhìn toàn diện. Khó khăn là khó khăn chung. Lãi suất 6% ngân hàng đã nhận được đâu. Lãi suất 6% chỉ áp dụng cho kỳ hạn một tháng. Vì vậy người gửi tiền đã chuyển hết từ kỳ hạn một tháng sang 3 tháng và dài hạn rồi. Kỳ thực lãi suất huy động không giảm mà vẫn là 7,5%. Nếu giảm nữa từ 7,5% xuống 7% thì mới giảm tí tẹo nhưng thực ra vốn trước đó người ta có được nhận 7% đâu. Lãi suất ngân hàng huy động trước đây là 14% hiện cũng chưa giải quyết xong. Vì vậy không thể nói ngân hàng huy động lãi suất 6% nhưng cho vay 12-13%.

– Nhiều doanh nghiệp vẫn kêu rằng họ đang phải vay ngân hàng lãi suất cao, thậm chí trên 15%?

– Nền kinh tế khó khăn chung, các bên đều phải nỗ lực, nhất là Chính phủ. Đầu ra đã giảm nhiều rồi. Số lãi suất cho vay trên 15% hiện chỉ còn 14% tổng dư nợ của toàn ngành Ngân hàng, như vậy là thiểu số chứ không phải đa số. Hiện tại phổ biến là 10-13%, muốn giảm nữa thì cần có độ trễ. Lãi suất cao hay thấp tùy vào thời hạn vay dài hay ngắn, tùy thuộc vào khả năng thanh toán, kinh doanh, độ rủi ro của doanh nghiệp. Hiện tại ngân hàng cũng chịu áp lực rất lớn về cổ tức và lợi nhuận. Nói ngân hàng “ăn” 5-6% chênh lệch lãi suất tôi không đồng ý.

– Ông có thể phân tích rõ hơn?

– Cứ làm phép tính đơn giản, đầu vào 6%, cho vay 12% ngắn hạn. Nhưng nói thế thôi chứ không phải là chênh lệch 6% vì nhận vào cũng không phải cho vay được hết, ngoài ra còn chi phí nhân công, khấu hao… Hiện nay nhiều ngân hàng tìm cách giảm nhân viên, giảm đủ mọi thứ. Ngân hàng cũng là doanh nghiệp. Nói cứu doanh nghiệp sao không cứu ngân hàng. Tôi nghĩ giờ lãi suất tương đối ổn. Vấn đề hiện nay không nằm ở lãi suất mà nằm ở tổng cầu. Có cho vay lãi suất 0% cũng vẫn chết vì có bán được hàng đâu. Xét công bằng so với kỳ vọng, lãi suất 10% bình quân đầu ra là doanh nghiệp êm. Hiện tại nhiều doanh nghiệp cũng chỉ phải vay lãi suất 9-10%. Mỗi bên phải cố một tí, ngân hàng đã cố rồi thì doanh nghiệp cũng phải cố.

– Như vậy là theo ông, lãi suất huy động và cho vay hiện nay là hợp lý?

– Tôi nghĩ là quá hợp lý. Nhà nước đã quá nỗ lực rồi. Tất cả mọi người đều phải nỗ lực. Doanh nghiêp nào không trụ được thì phải chịu, chỉ cứu những anh cần cứu.

– Cảm ơn ông!

Khánh Hòa

Từ khoá: tổng giám đốc ngân hàng nông nghiệp khó khăn khả năng thanh toán huy động không lành mạnh nền kinh tế doanh nghiệp ngân hàng nhà nước trích lập dự phòng

PVI hợp nhất quý I/2013 lãi ròng giảm 33%

Trong kỳ chi phí trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tăng mạnh dẫn đến chi phí hoạt động tài chính tăng 176%.

Công ty Cổ phần PVI (PVI Holdings) PVI công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2013 với lợi nhuận sau thuế đạt gần 100 tỷ đồng, giảm 32,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, phần lãi thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 100,33 tỷ đồng.

Doanh thu thuần quý I/2013 của PVI đạt 1.391 tỷ đồng, giảm 6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu từ phí bảo hiểm gốc là 1.280 tỷ đồng. Lợi nhuận gộp theo đó giảm 5,5%, đạt 318,51 tỷ đồng.

Doanh thu tài chính giảm 8,5%, đạt 177,17 tỷ đồng là do lãi suất thị trường giảm mạnh. Ngoài ra chi phí trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tăng mạnh dẫn đến chi phí hoạt động tài chính tăng 176%. Chi phí quản lý tăng 8%. Riêng chi phí bán hàng giảm 3,2%.

Tiền và tương đương tiền tính đến ngày 31/3/2013 tăng 2,19 tỷ đồng so với hồi đầu năm, đạt 3,96 tỷ đồng. Khoản mục hàng tồn kho của PVI giảm 1/2 so với đầu năm.

EPS quý I/2013 đạt 443 đồng/cổ phiếu trong khi quý I/2012 đạt 772 đồng/cổ phiếu.

Số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành bình quân quý I/2013 là hơn 226 triệu cổ phiếu, trong khi cùng kỳ là 205 triệu cổ phiếu.

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất quý I/2013 của PVI

Nguồn: HNX, Đơn vị: Tỷ đồng

Theo Dân Việt

Từ khoá: tài chính pvi chi phí phí bảo hiểm bảo hiểm gốc trích lập dự phòng doanh thu chi phí quản lý cổ phiếu chi phí hoạt động công ty cổ phần phí bảo hiểm gốc

Nhiệm vụ cốt lõi của các nhà băng là nâng cao năng lực quản trị rủi ro

(ĐTCK) Ghi nhận của ĐTCK về quan điểm của lãnh đạo một số NHTM đối với những thách thức cũng như giải pháp phát triển của ngành ngân hàng hiện nay.

Ông Phạm Hữu Phú, Chủ tịch HĐQT Sacombank

Trong năm 2013, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng được các tổ chức quốc tế dự báo sẽ tăng trưởng cao hơn so với năm 2012. Trong bối cảnh như vậy, Sacombank kiên trì định hướng “trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại, đa năng hàng đầu khu vực”, trong đó, chú trọng vào yếu tố hiệu quả và bền vững.

Các mấu chốt trong chiến lược phát triển giai đoạn tới là gia tăng năng suất lao động, chú trọng công tác quản trị chi phí hiệu quả và cải tiến phương thức quản lý – quy trình tác nghiệp, tối đa hóa giá trị lợi ích trên từng đơn vị khách hàng, song song với việc nâng cao công tác quản trị, điều hành để đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả hơn. Sacombank đã đưa ra định hướng hoạt động: “Tăng trưởng bền vững – Hiệu quả hợp lý”. Theo đó, Sacombank tập trung tăng trưởng tín dụng thận trọng, phù hợp với định hướng của ngành; từng bước nâng cao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi để tạo cơ cấu thu nhập bền vững; đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch có trọng điểm và tăng cường đầu tư chiều sâu; cải tiến tổ chức bộ máy tinh gọn theo hướng tăng nhân sự cho hoạt động bán hàng.

Ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank

Có thể nói, thị trường năm 2013 là khúc quanh, tính sàng lọc mạnh mẽ hơn. Phía trước là những thách thức lớn đối với hoạt động của ngành ngân hàng như: nợ xấu, bất động sản đóng băng, DN khó khăn, đầu ra cho dòng tiền khó… Những ngân hàng mạnh vượt qua được khúc quanh đó thì đến khi nền kinh tế phục hồi sẽ tăng trưởng tốt hơn. DongA Bank coi năm 2013 là năm bản lề để có những bước đi mang tính quyết liệt, dồn sức cho quá trình đổi mới, chuẩn bị cho một thời kỳ tăng trưởng tiếp theo. Trong đó, ưu tiên cân đối về sức khỏe và con số tài chính.

Chủ trương hoạt động của DongA Bank trong năm nay là đặt yếu tố an toàn và ổn định lên hàng đầu. Đồng thời, Ngân hàng sẽ tăng cường hỗ trợ DN, vì hoạt động DN có an toàn, Ngân hàng mới an toàn. Một trong những nhiệm vụ lớn nhất trong năm nay đối với DongA Bank là tái cấu trúc hoạt động của Ngân hàng theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả. DongA Bank cũng đặt kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.000 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng, để nâng cao năng lực tài chính.

Điểm nổi bật trong chiến lược hoạt động năm 2013 là DongA Bank tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ. Hiện Ngân hàng đang có tới gần 6 triệu khách hàng cá nhân.

Bà Nguyễn Minh Thu, Tổng giám đốc OceanBank

Thời gian qua, các chính sách của Nhà nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn còn thấp, thị trường bất động sản, chứng khoán và các DN vẫn phải đối mặt với hàng loạt khó khăn. Các ngân hàng TMCP một mặt phải đối diện với những thách thức của nền kinh tế, nợ xấu gia tăng, một mặt phải đứng trước áp lực giành thị phần và tạo lợi nhuận trong thời gian ngắn.

OceanBank cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng đây cũng là cơ hội cho Ngân hàng củng cố nội lực để sẵn sàng bứt phá. Dự án đổi mới mà OceanBank triển khai thực hiện trong thời gian qua là một minh chứng cho nỗ lực tự thân của Ngân hàng để phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội, nối dài các chặng đường phát triển, để thương hiệu OceanBank tiếp tục lan tỏa. OceanBank xác định mục tiêu lâu dài là an toàn trong mọi hoạt động, chuyên nghiệp trong quản trị, tập trung vào khách hàng bằng những chính sách, sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, đơn giản và tiện ích nhất.

Ông Tay Han Chong, Tổng giám đốc MeKong Bank

Trong bối cảnh thị trường hiện nay, để phát triển ổn định và bền vững, các NHTM cần có sự thay đổi cả về cách nghĩ cũng như hành động. Trong đó, năng lực quản lý rủi ro là yếu tố cốt lõi để phân biệt giữa các tín dụng tốt, xấu và rất xấu. Bên cạnh đó, đã đến lúc, chúng ta cần phải nhìn xa hơn quy mô và số lượng các chi nhánh của một ngân hàng để có cái nhìn toàn diện hơn về mức độ tốt và vững mạnh của ngân hàng.

Trong năm nay, các ngân hàng cần phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe tài chính của các khách hàng, cả DN và cá nhân. Nền kinh tế trong nước cũng như thế giới tiếp tục phải đối mặt với khó khăn, rủi ro tiềm tàng sẽ tiếp tục tăng. Mặt khác, việc lãi suất đang giảm dần sẽ làm cho cái giá của rủi ro thêm tăng. Vì vậy, tất cả các ngân hàng cần phải hoạch định cho mình những bước đi thật cẩn thận để cân bằng giữa sự tăng trưởng và rủi ro. Ngân hàng nào luôn giữ “sức khỏe” tốt thông qua các chiến lược đúng đắn, nội lực ổn định thì sẽ mau chóng vượt qua “cơn cảm cúm” của nền kinh tế hiện nay.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thấy có nhiều cơ hội để phát triển một cách cân bằng trong tình hình kinh tế hiện nay. MeKong Bank đã quán triệt về mục tiêu tăng trưởng kinh doanh với quản lý tốt rủi ro tín dụng. Những năm gần đây, chúng tôi đã thực hiện điều này một cách mạnh mẽ và rốt ráo hơn bao giờ hết. Ngoài ra, MeKong Bank cũng tận dụng nguồn lực từ FFH, cổ đông chiến lược nắm giữ 20% cổ phần Ngân hàng kể từ cuối năm 2010.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB

Hoạt động của ngành ngân hàng trong năm nay vẫn đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, do nền kinh tế thế giới và trong nước vẫn trong tình trạng suy thoái khi hoạt động tín dụng đang có nhiều rào cản. Trong đó, nợ xấu là vấn đề lớn nhất của các ngân hàng hiện nay. “Miếng bánh” tín dụng của ngân hàng đang bị thu hẹp và việc thu hút được khách hàng tốt vay vốn là rất khó. Yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng năm nay là phải kiểm soát được chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro và kiểm soát được nợ xấu. Tuy nhiên, do điều kiện kinh kế có khó khăn, hàng hóa khó tiêu thụ khiến nợ xấu khó kiểm soát.

Đối với OCB, mục đích của Ngân hàng trong năm nay là tập trung tái định vị thương hiệu, tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng, đi đôi với việc đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường một. Các chỉ tiêu tài chính OCB đặt ra cho năm nay gồm: tổng tài sản đạt 28.756 tỷ đồng; huy động vốn đạt 24.045 tỷ đồng, trong đó huy động từ thị trường 1 đạt 19.245 tỷ đồng; dư nợ cho vay 9% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới 3%. Còn lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 320 tỷ đồng. Mức lợi nhuận này được đưa ra trên cơ sở đã tính đến việc trích lập dự phòng.

Với thông điệp lãi suất sẽ theo hướng giảm đã tạo điều điều kiện tốt cho các DN cũng như ngân hàng hoạch định kế hoạch kinh doanh của mình. Vấn đề hiện nay là các ngân hàng phải tiết giảm chi phí tối đa, nâng cao hiệu quả hoạt động để có được lãi suất cho vay thấp nhất, cạnh tranh nhất mà vẫn đảm bảo được tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Bởi cái khó nhất trong phát triển tín dụng hiện nay chính là sự khó hấp thụ vốn từ các DN và từ thị trường. Hiện ngân hàng từng bước tháo gỡ khó khăn cho DN cả về giảm lãi suất cho vay và đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ khác như tạo các cơ chế bán chéo sản phẩm, cho vay bên mua hàng, cho vay dựa trên cơ sở đảm bảo của nguồn thu, phương án kinh doanh…

Tuy nhiên, nợ xấu vẫn là rào cản lớn trong hoạt động tín dụng. Đồng thời, nếu áp dụng các quy định mới tại Thông tư 02, theo tôi, sẽ có những khó khăn và ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của ngân hàng. Nhưng để đảm bảo được việc quản trị rủi ro thì đó cũng là điều cần thiết mà hiện nay các nước trên thế giới đã áp dụng.

Theo tôi, trong năm 2013 sẽ đan xen hai xu hướng gồm phát triển và quản trị theo hướng bền vững, hiệu quả. Về cơ bản, các ngân hàng luôn kỳ vọng lợi nhuận năm 2013 sẽ tốt hơn so với năm 2012. Nhưng trước bối cảnh thị trường khó khăn và để có thể tăng trưởng bền vững, Ngân hàng sẽ đặt mục tiêu quản trị rủi ro lên hàng đầu, phát triển bền vững và an toàn, thay vì lợi nhuận cao.

Ông Tareq Muhmood, Tổng giám đốc Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ (Việt Nam)

Trong một thời gian dài, một số ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng với bất cứ giá nào, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng lên đáng báo động và giờ đây, họ đang phải đặt trọng tâm vào quản lý rủi ro và tăng thanh khoản.

Ở giác độ cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước đã làm rất tốt việc điều hành hệ thống. Điều quan trọng là mỗi ngân hàng phải tự chịu trách nhiệm và rà soát lại bảng cân đối kế toán và đảm bảo đủ thanh khoản và phải tìm các biện pháp khác nhau để đáp ứng được nhu cầu tín dụng của khách hàng.

Ở một góc độ nào đó, điều kiện khó khăn chính là cơ hội để ngân hàng xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với khách hàng khi họ không nhận được sự hỗ trợ từ các ngân hàng khác (vì đang phải tập trung giải quyết các vấn đề nội tại).

Chúng tôi cho các DN trong nước vay nhiều hơn để giúp họ đảm bảo tăng trưởng ngay cả trong điều kiện môi trường có nhiều thử thách. Dù là ngân hàng trong nước hay ngân hàng nước ngoài thì nhiệm vụ quan trọng nhất là phải thành công thông qua việc có chiến lược rõ ràng, luôn hỗ trợ nhu cầu của khách hàng, tuân thủ với các quy định và tạo lợi nhuận trên vốn đầu tư.

Ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT Eximbank

Cá nhân tôi cho rằng, năm 2013 vẫn là năm có nhiều thách thức lớn với hệ thống ngân hàng nội địa Việt Nam.

Thứ nhất, sau một thời gian phát triển khá nóng, định hướng chung của Chính phủ và NHNN là cần tái cấu trúc và làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng. Điều này về lâu dài tốt cho nền kinh tế, nhưng trước mắt có thể khiến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nội địa giảm sút. Chẳng hạn, các mảng kinh doanh tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng như kinh doanh vàng đã bị thu hẹp. Bên cạnh đó, nhằm giúp hệ thống phát triển lành mạnh, các ngân hàng được yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, khiến tỷ suất lợi nhuận biên giảm sút.

Thứ hai, các ngân hàng nội địa hiện nay đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng ngoại. Chẳng hạn, hiện có ngân hàng ngoại đang chào các DN Việt Nam vay USD, VND với lãi suất thấp hơn các ngân hàng nội địa. Đa phần các ngân hàng Việt Nam cho vay với mức lãi suất cao hơn và doanh thu từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng rất lớn nên sự cạnh tranh này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Thứ ba, kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới nên hệ thống tài chính Việt Nam cũng biến động và phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Các diễn biến bên ngoài phức tạp, khó tiên liệu và nhận diện mức độ rủi ro đầy đủ.

Ông Nguyễn Tiến Đông, Phó tổng giám đốc Agribank

Bước sang năm 2013, tình hình kinh tế vĩ mô trong nước vẫn còn nhiều bất ổn, sản xuất – kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, tồn kho một số lĩnh vực còn cao. Xuất khẩu hàng hóa nông sản gặp khó khăn do kinh tế thế giới tiếp tục suy thoái. Nhiều khách hàng thu hẹp sản xuất hoặc có nguy cơ phá sản, khiến đầu ra cho sản phẩm tín dụng của ngành ngân hàng, trong đó có Agribank rất khó khăn.

Trước tình hình ấy, Agribank quán triệt thực hiện chủ trương, chính sách của Chính phủ, chỉ đạo của NHNN và các bộ, ngành về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; ưu tiên vốn cho khu vực “tam nông” (nông nghiệp – nông thôn – nông dân). Bên cạnh đó, Ngân hàng triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ DN tháo gỡ khó khăn, giải phóng hàng tồn kho, phục hồi hoạt động sản xuất – kinh doanh. Ngoài ra, Ngân hàng phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là việc bán chéo các sản phẩm dịch vụ, nhằm tăng khả năng thu từ hoạt động dịch vụ.

Ông Lê Thành Trung, Phó tổng giám đốc HDBank

Từ khoá: huy động vì khách hàng ngân hàng phương thức quản lý tái cấu trúc bão giám đốc gia việt nam sacombank hiệu quả an toàn vốn điều lệ tổng giám đốc lợi nhuận thế giới thị trường động sản nền kinh tế sản phẩm phát triển lành mạnh chiến lược phát triển chiến lược tổng tài sản bất động sản cổ đông chiến lược khách hàng cá nhân thách thức phát triển hiệu quả kinh doanh nội địa kinh doanh nhu cầu của khách hàng chính sách cạnh tranh năng suất lao động quản trị rủi ro khách hàng ổn định dịch vụ tăng vốn điều lệ kinh tế thế giới sức khỏe kinh tế tài chính khó khăn tín dụng trích lập dự phòng tăng trưởng năng lực tài chính

Huy động nhiều, cho vay ít, vốn đi đâu ?

Vốn huy động được của dân trong 4 tháng đầu năm chạy đi đâu? Đó là câu hỏi được nhiều đại biểu đặt ra tại phiên họp toàn thể lần thứ 8 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội diễn ra sáng 26.4.

Huy động nhiều, cho vay ít, vốn đi đâu ?

Phiên họp toàn thể lần thứ 8 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội sáng 26.4 – Ảnh: Bảo Cầm

Trong báo cáo của Chính phủ cho thấy vốn cho vay gần như bằng 0, trong khi vốn huy động vẫn tăng 5%, có ý kiến hỏi vốn đi đâu, hay huy động vốn của dân rồi quay ra mua vàng vừa rồi?
Ông Mai Xuân Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội

Phát biểu tại phiên họp, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Cao Sỹ Kiêm nhìn nhận: Lòng tin của doanh nghiệp (DN) đối với điều hành, quản lý kinh tế xã hội của chúng ta là “có vấn đề”. Tình trạng chán nản, buông xuôi, thúc thủ đã xuất hiện trong DN.

Theo ông Kiêm, những giải pháp Chính phủ đặt ra tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh là rất đúng, rất trúng, rất sớm nhưng triển khai rất chậm, trong khi DN đang rất cần tháo gỡ nhanh khó khăn.

Tán thành nhận định này, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Thế Tuy phản ánh: Nhiều DN nói rằng chính sách hiện đang để bảo hộ ngân hàng (NH), bảo hộ cơ quan nhà nước thôi chứ không phải thực sự bảo vệ DN.

Ông Tuy dẫn câu chuyện vừa qua NH NN-PTNT chi nhánh Lạng Sơn chuyển 1.000 tỉ đồng “về trung ương” vì huy động được nhưng không cho vay được.

“Khơi thông nguồn vốn cho DN hiện nay đang bế tắc, trong báo cáo của Chính phủ cho thấy vốn cho vay gần như bằng 0, trong khi vốn huy động vẫn tăng 5%, có ý kiến hỏi vốn đi đâu, hay huy động vốn của dân rồi quay ra mua vàng vừa rồi?”, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Mai Xuân Hùng nói.

Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính ngân sách QH Bùi Đức Thụ cũng “lấy làm lạ” khi dư nợ huy động tăng nhưng cho vay gần như không tăng. “Đồng ý là không giảm điều kiện cho vay vì như thế sẽ tiềm ẩn nợ xấu nhưng có một bộ phận DN vẫn có thể đưa vốn vào được thì tại sao trong điều kiện cung lớn hơn cầu, lãi suất cho vay vẫn tăng? Có phải ở đây là lợi ích nhóm, giữa nội bộ các NH lớn liên kết với nhau để không hạ lãi suất nhằm mục đích lợi nhuận? NHNN cần phải làm rõ vấn đề này”, ông Thụ đề nghị.

Ngân hàng chỉ lo bán vàng

Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa Lê Nam cũng sốt ruột: “Vừa rồi tiếp xúc cử tri, người dân phản ánh chỉ thấy NH thương mại bán vàng thôi, chẳng thấy làm gì. Chúng tôi cũng hiểu NHNN vừa rồi làm rất nhiều việc, nhưng những cái cụ thể để mà tác động vào DN, tác động vào nền kinh tế thì chưa rõ, cái cụ thể mà dân thấy nổi bật, nổi trội trong thời gian vừa rồi chủ yếu là bán vàng”.

Theo ông Nam, Chính phủ “không nên tập trung cứu ông NH mà thực chất ông ấy bị bệnh rồi, giờ nếu ông DN bệnh nữa thì chết luôn cả 2 ông. Cho nên bây giờ phải tập trung bảo vệ người gửi tiền, bảo vệ lợi ích của dân, của DN”.

Khỏi cần lập công ty xử lý nợ xấu

“Nợ xấu tính đến cuối năm 2012 vừa qua gần 9% nhưng theo báo cáo của Thanh tra NHNN thì chỉ trong quý 1/2013 đã giải quyết được 3% nợ xấu, như vậy chỉ còn khoảng gần 6%. Với tốc độ này thì có lẽ chỉ 2 quý tiếp là hết nợ xấu, vậy thì có cần cứu NH nữa không? Như vậy thì khỏi cần thành lập công ty xử lý nợ xấu nữa”.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Mai Xuân Hùng

DN phải trả lãi NH 480.000 tỉ đồng/năm

“Tôi xin trả lời câu hỏi ĐB Trần Du Lịch (TP.HCM) đặt ra từ trước: Nền kinh tế này phải trả lãi cho NH bao nhiêu? Chúng tôi cộng số liệu từ 66 NH thương mại thì năm 2010, DN phải trả lãi 202.000 tỉ, năm 2011 số phải trả là 401.000 tỉ, năm 2012 là 480.000 tỉ đồng”.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng AnhTuấn

Mỗi tháng có 5.000 DN giải thể, ngừng hoạt động

Theo báo cáo của Thứ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Cao Viết Sinh, 4 tháng đầu năm, xấp xỉ 20.000 DN giải thể, trung bình mỗi tháng 5.000 DN, trong khi năm ngoái số DN giải thể bình quân mỗi tháng là 4.500 DN. Số DN hồi phục, quay lại hoạt động trong 4 tháng đầu năm khoảng 8.000, trung bình mỗi tháng 2.000 DN.

Giải pháp chậm, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn

Nhiều giải pháp mới tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế được triển khai quá chậm, khiến doanh nghiệp (DN) gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế tựu trung không cảm nhận được một luồng xung lực mới.

Đó là thông tin được ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cho biết tại cuộc họp báo diễn ra chiều 26.4.

Chưa người dân nào được ưu đãi vay mua nhà

Lập công ty xử lý tài sản trong vài ngày tới

Liên quan đến việc thành lập Công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu, ông Đam cho biết, kỳ họp trước Chính phủ thảo luận nhưng một số thành viên yêu cầu cần làm rõ và sâu hơn một số vấn đề. Thời gian qua, NHNN cũng họp lại tiếp thu ý kiến bộ, ngành và trình lên bản sửa đổi, trong vòng một vài ngày tới Chính phủ làm thủ tục thông qua nghị định này. Tuy nhiên, theo ông Đam, xử lý nợ xấu cần gồm nhiều giải pháp, công ty này cũng chỉ là một trong giải pháp đó. Các bộ, ngành và đặc biệt là NHNN đang tiếp tục xử lý nợ xấu, trước hết trách nhiệm thuộc về hệ thống ngân hàng, việc trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định.

Theo ông Đam, nhìn chung nền kinh tế trong tháng 4 và sau 4 tháng tiếp tục có những xu hướng diễn biến tích cực, các chỉ số vĩ mô đạt được, và ổn định, riêng chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng thấp. Tuy nhiên, tốc độ cải thiện rất chậm, đặc biệt, số DN thành lập mới vẫn nhiều, nhưng dường như vẫn không có một xung lực mới nào. Bên cạnh tín hiệu đáng mừng, nhiều DN năm ngoái kê khai dừng hoạt động, năm nay hoạt động trở lại, đồng thời các DN khác bắt đầu lại sản xuất cầm chừng. “Nói một cách khái quát thì DN vẫn còn rất nhiều khó khăn” – ông Đam cho biết.

Cũng theo Bộ trưởng Đam, Chính phủ đánh giá nhiều giải pháp trước kia làm rồi nay thực hiện có kết quả tốt, nhưng các giải pháp mới triển khai còn chậm. “Chúng ta thống nhất chủ trương từ rất lâu, dành ra khoản ngân sách 30.000 tỉ đồng hỗ trợ cho người có thu nhập thấp và trung bình mua nhà. Nhưng giờ phút này chưa người dân nào vay được tiền để mua nhà, vì phải ra rất nhiều văn bản hướng dẫn, đối tượng nào được vay, nhà nào dành cho đối tượng đó… Chính phủ ráo riết yêu cầu các bộ ngành phải khẩn trương hơn nữa để chính sách sớm đi vào cuộc sống” – ông Đam nêu ví dụ.

Bên cạnh đó, Chính phủ thể hiện quyết tâm không chủ quan, dù thu ngân sách năm nay có nhiều khó khăn, nhưng dứt khoát không điều chỉnh kế hoạch chi tiêu. Đối với công trình lớn, người dân quan tâm như nâng cấp quốc lộ 1A, thiếu bệnh viện, Chính phủ chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền cần đưa ra giải pháp tài chính để nhất định phải làm.

Về siêu dự án lọc hóa dầu 27 tỉ USD tại Bình Định, theo ông Đam, hiện Chính phủ chỉ đạo nhà đầu tư và cơ quan liên quan nghiên cứu lập báo cáo tiền khả thi.

Anh Vũ

Bảo Cầm

Từ khoá: chính phủ kinh tế bão trích lập dự phòng giải pháp người dân bộ tài chính doanh nghiệp công ty triển khai giải pháp tài chính huy động tài chính thành lập công ty nền kinh tế khó khăn ngân hàng thu nhập thấp

VIB, nhiều chỉ tiêu 2012 không đạt kế hoạch

(ĐTCK) Tại ĐHCĐ VIB diễn ra ngày 25/4 tại Hà Nội, HĐQT tập trung chủ yếu vào báo cáo hoạt động nhiệm kỳ khóa V (2008-2013) và định hướng hoạt động của Ngân hàng trong những năm tiếp theo.

Về tổng thể, giai đoạn 5 năm vừa qua, VIB đã có những chuyển biến trên nhiều chỉ số cơ bản: tổng tài sản đạt 65.023 tỷ đồng tăng 87% so với năm 2008; huy động vốn đạt 40.062 tỷ đồng tăng 64% so với năm 2008; dư nợ đạt 33.887 tỷ đồng tăng 71%; Nợ xấu luôn ở dưới mức 3% theo quy định của NHNN.

Ban điều hành VIB cũng cho biết, một số chỉ tiêu kinh doanh năm 2012 chưa đạt so với mục tiêu đã đề ra như: dư nợ cho vay khách hàng tại thời điểm cuối năm 2012 là 33.887 tỷ đồng, giảm 22% so với năm 2011. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước trích lập dự phòng là 1.445 tỷ đồng, thấp hơn 21% so với năm 2011. Tuy nhiên, chi phí dự phòng rủi ro năm 2012 lại thấp hơn 24% so với năm 2011, ở mức 744 tỷ đồng. Kết quả là lợi nhuận trước thuế 2012 chỉ giảm 17% và đạt gần 701 tỷ đồng.

Từ khoá: vib trích lập dự phòng tổng tài sản

SUDICO: Bán đất, thoái vốn khỏi dự án mong thoát lỗ ?

CafeLand – Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà (SUDICO) vừa có văn bản giải trình kết quả kinh doanh lỗ trong năm 2012 và đưa ra phương án khắc phục.

Phối cảnh tổng thể dự án Khu đô thị mới Nam An Khánh.

Theo giải trình từ phía SUDICO, thời gian vừa qua do tình hình chung của nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh bất động sản gặp nhiều khó khăn. Công ty chỉ tập trung vào xây dựng, đầu tư hoàn thiện hạ tầng các dự án (Nam An Khánh, Văn La – Văn Khê) và chưa triển khai kinh doanh bán hàng nên chưa ghi nhận doanh thu để bù đắp các khoản lỗ từ chi phí của công ty.

Thêm vào đó, thị trường chứng khoán năm 2012 cũng bị ảnh hưởng của các thông tin vĩ mô nên phần lớn các khoản đầu tư tài chính vào các công ty con và công ty liên kết trong danh mục đều bị giảm giá. Vì vậy công ty cũng phải trích lập dự phòng đầu tư tài chính đối với những khoản mục đầu tư của đơn vị. Đồng thời một số công ty con, công ty liên kết của SUDICO đang trong giai đoạn đầu tư, chưa có doanh thu để bù đắp chi phí quản lí và chi phí tài chính.

Ngoài ra, cũng do thị trường bất động sản có nhiều biến động, để đảm bảo tính thận trọng cho mục tiêu lợi nhuận của các năm tiếp theo, trong kỳ công ty đã trích lập dự phòng 145 tỷ đồng cho các khoản mục đầu tư vào dự án.

Để có thể “vượt khó” trong năm 2013, SUDICO đã có phương án kinh doanh một phần diện tích đất kinh doanh thuộc dự án Khu đô thị Nam An Khánh (HĐQT đã có nghị quyết về việc triển khai kinh doanh từ 7 đến 8 ha đất thương phẩm trong năm 2013 với giá trị khoảng 1.500 tỷ đồng). Đồng thời, công ty sẽ tiến hành thu hồi 220 tỷ đồng công nợ đối với phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho các nhà đầu tư thứ phát đã phát sinh trong các năm trước.

Bên cạnh đó, SUDICO cũng đã đang tiến hành thoái vốn tại một số dự án hiệu quả thấp để đảm bảo dòng tiền trong các năm tiếp theo. Trong tháng 3, Sudico đã thoái vốn và thu hồi được 25 tỷ đồng góp vốn tại dự án Cactus Cam Ranh (Khánh Hòa).

Bên cạnh đó, SUDICO cũng đang đàm phán với một số đối tác chiến lược có tiềm lực tài chính mạnh và sẵn sàng hợp tác góp vốn hoặc nhận chuyển nhượng dự án. Trong thời gian tới, SUDICO sẽ đẩy nhanh quá trình đàm phán này để hợp tác hoặc chuyển nhượng một phần các dự án cho các đối tác.

Từ khoá: bất động sản chuyển nhượng đầu tư tài chính công ty cổ phần đối tác chiến lược nền kinh tế tài chính kinh doanh trích lập dự phòng chi phí công ty thị trường chứng khoán

Ngoài 7.415 tỷ ‘dư nợ bầu Kiên’, ACB còn 4.000 tỷ tài sản mờ khác

Ngân hàng này hầu như chưa trích lập dự phòng rủi ro đối với số tài sản trên

Kể từ tháng 8/2012 tới nay, bất cứ khi nào ACB có công bố thông tin, có lẽ điều thị trường quan tâm nhất là những câu chuyện liên quan đến Bầu Kiên. Theo thông tin từ đơn vị kiểm toán, Ngân hàng Nhà nước đang tiến hành “thanh tra toàn diện” ACB với “một trong các mục tiêu chính” là điều tra các khoản vay, bảo lãnh, thế chấp của các công ty có liên quan tới ông Nguyễn Đức Kiên.

Tuy vậy, ngoài số dư các khoản cho vay và phải thu 7.415 tỷ đồng từ nhóm công ty của Bầu Kiên, trong BCTC mới công bố của ngân hàng này có những “điểm mờ” khiến cổ đông và giới đầu tư không khỏi lo ngại.

1.193 tỷ đồng đảm bảo thanh toán cho hai công ty của bầu Kiên

Theo thuyết minh số 40, BCTC hợp nhất năm 2012 của ACB, nghĩa vụ đảm bảo thanh toán này ban đầu là của CTCK ACBS cho “một ngân hàng trong nước” đối với gốc và lãi trái phiếu do hai công ty của bầu Kiên phát hành cho ngân hàng này.

Tới cuối năm 2012, ACBS sử dụng 627 tỷ đồng cổ phiếu làm tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ của mình. Đáng chú ý, số cổ phiếu này lại được ACBS mua thông qua hợp đồng hợp tác đầu tư với chính hai công ty trên của bầu Kiên.

Đến ngày 15/1/2013, để thay thế cho đảm bảo của ACBS, Ngân hàng ACB ký kết với “ngân hàng lạ” kể trên một thư đảm bảo thanh toán với tài sản đảm bảo là 1.193 tỷ đồng tiền gửi của ACB tại ngân hàng này. Như vậy, giá trị tài sản đảm bảo bằng tiền gửi đã bằng đúng với giá trị nghĩa vụ đảm bảo thanh toán.

Không trích lập dự phòng 756 tỷ đồng tiền gửi trong vụ án Huyền Như

Lý do mà ACB đưa ra là ngân hàng này “tin tưởng sẽ thu hồi được các khoản vay”, “dựa trên diễn tiến sự việc, các bằng chứng của vụ án và ý kiến của luật sư”. Khoản tiền này bao gồm 719 tỷ gốc và 36,5 tỷ đồng lãi phải thu.

Về phía Vietinbank, ngân hàng này cũng “tin tưởng rằng” mình “không phải chịu trách nhiệm liên đới và bất kỳ tổn thất tài chính nào” (theo BCTC kiểm toán năm 2012 của Vietinbank).

Cần lưu ý là Huyền Như đã bị bắt và số tiền 719 tỷ mà ACB ‘nghĩ là mình gửi’ tại Vietinbank Chi nhánh Nhà Bè đã không cánh mà bay. Nói cách khác, một trong hai ngân hàng ACB và Vietinbank sẽ phải gánh số “tổn thất tài chính” 756 tỷ đồng cả gốc lẫn lãi này.

“Niềm tin” của bên nào sẽ trở thành hiện thực thì còn phải đợi phán quyết của tòa nhưng việc cả hai bên đều không trích lập dự phòng khiến thị trường không khỏi ái ngại.

Thoát trích lập dự phòng đối với 1.095 tỷ đồng tiền gửi quá hạn

Trước vụ Bầu Kiên, ACB luôn là tay chơi lớn trên thị trường liên ngân hàng. Tới giữa năm 2012, ACB là ngân hàng cho vay ròng nhiều thứ hai trên thị trường này với 36.081 tỷ đồng, chỉ đứng sau Vietcombank và còn xếp trên cả những ngân hàng luôn dư dả tiền mặt như BIDV và MBB. (Đáng lưu ý, Vietinbank lúc này là người đi vay ròng gần 23 nghìn tỷ đồng).

Vì thế, đến khi thị trường liên ngân hàng đóng băng, ACB khó tránh thiệt hại. Tới cuối năm 2012, ACB đang có 1.095 tỷ đồng tiền gửi đã quá hạn tại “một NHTMCP trong nước”.

Phía ACB bảo vệ việc mình không tiến hành trích lập dự phòng bằng cách dẫn chiếu tới Thông tư 21/2012/TT-NHNN hướng dẫn về vay và cho vay giữa các TCTD, theo đó không có hướng dẫn về trích lập dự phòng cho trường hợp này.

Tuy vậy, TT 02/2013/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/6/2013 đã có quy định yêu cầu trích lập dự phòng trong trường hợp cho vay quá hạn trên liên ngân hàng và như vậy toàn bộ chi phí trích lập dự phòng cho số tiền gửi quá hạn này sẽ được phản ánh trong BCTC bán niên 2013 của ACB.

941 tỷ đồng dư nợ và lãi phải thu Vinalines, liệu cách xử lý có giống dư nợ Vinashin?

Số tiền này bao gồm 747 tỷ đồng vay mua và đóng tàu, 107 tỷ đồng vay tài trợ vốn lưu động và 87,5 tỷ đồng lãi phải thu. Hiện ACB đang xếp toàn bộ dư nợ Vinashin vào nhóm “Nợ cần chú ý”, tức chỉ phải trích lập dự phòng có 5%.

Dù Đề án tái cơ cấu Vinalines đã được phê duyệt từ trước Tết nguyên đán, nhưng trong Hội nghị đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ GT-VT mới đây, “những bước đi chi tiết của kế hoạch tái cơ cấu tập đoàn này vẫn dậm chân tại chỗ”.

Theo lời ông Lê Anh Sơn, Phó Tổng giám đốc Vinalines, nếu không tái cơ cấu, Vinalines sẽ “tiệm cận nguy cơ phá sản”.

Trong trường hợp triển vọng kinh doanh của Vinalines không có gì sáng sủa thêm trong những năm sắp tới, không loại trừ khả năng dư nợ của tập đoàn này sẽ được xử lý tương tự như dư nợ của Vinashin với các TCTD trong nước.

Còn nhớ, dư nợ của Vinashin tại các NHTM sẽ được chuyển đổi thành trái phiếu do chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 10 năm, với giá trị bằng 30% mệnh giá khoản nợ. Nói cách khác, các NHTM mất 70% nợ gốc.

Việt Dũng

Theo TTVN

Từ khoá: acb dự phòng doanh nghiệp nhà nước ngân hàng tổng giám đốc nghĩa vụ thanh toán trích lập dự phòng gia vietinbank nguyễn đức kiên giới đầu tư bão công bố thông tin công ty

Hợp nhất WesternBank và PVFC: Cần 37.000 tỷ đồng vốn mồi

tổng tài sản chi phí trực tiếp kết quả lợi nhuận an toàn chi phí tài sản pvn tín dụng quỹ dự phòng vốn điều lệ ngân hàng dự phòng bão kinh doanh trích lập dự phòng doanh nghiệp xuất khẩu

PVFC và WesternBank đề xuất NHNN cho vay từ nguồn tái cơ cấu hệ thống NHTM khoảng 30.000 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản và thêm 7.000 tỷ đồng từ PVN.

Ngày 16/3, WeternBank sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) thường niên tại Cần Thơ. Ngoài các nội dung về kết quả hoạt động năm 2012, kế hoạch kinh doanh năm 2013…, Đại hội sẽ xem xét dung hợp nhất WesternBank với PVFC. Đề án hợp nhất giữa hai tổ chức này đã được đệ trình Ngân hàng Nhà nước và theo một nguồn tin đáng tin cậy, đề án về cơ bản đã được chấp thuận.

Tham vọng sau hợp nhất

Theo đề án trình cổ đông tại đại hội lần này, WesternBank và Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) sẽ hợp nhất theo những điều khoản của Hợp đồng hợp nhất. Cụ thể, giá trị sổ sách của PVFC và giá trị sổ sách của WesternBank sẽ được chuyển giao cho ngân hàng hợp nhất có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng (bằng vốn điều lệ của PVFC là 6.000 tỷ đồng, cộng với vốn điều lệ của WesternBank là 3.000 tỷ đồng). Ngân hàng sau hợp nhất sẽ sử dụng tất cả cán bộ – nhân viên hiện tại của PVFC và WesternBank.

Theo kế hoạch, sau hợp nhất, ngân hàng mới sẽ trở thành 1 trong 5 ngân hàng có chỉ số an toàn tốt nhất Việt Nam trước năm 2015. Số vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng của ngân hàng hợp nhất sẽ được duy trì cho đến hết năm 2014 và tăng lên 12.000 tỷ đồngtrong năm 2015. Ngân hàng sẽ tập trung cơ cấu lại tài sản, nguồn vốn theo hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư, góp vốn dài hạn, đặc biệt là các khoản đầu tư vào chứng khoán vốn, đồng thời nâng dần tỷ trọng cho vay khách hàng, mở rộng mạng lưới kinh doanh ở mức tối đa cho phép.

Ngân hàng sau hợp nhất sẽ sử dụng tất cả cán bộ – nhân viên hiện tại của PVFC và WesternBank

Giai đoạn 2014-2015, tham vọng của ngân hàng là trở thành 1 trong 18 ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam, đứng đầu về cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực năng lượng của khu vực, có khoảng 250 điểm giao dịch, tổng tài sản đến năm 2015 đạt 235.000 tỷ đồng, với hiệu suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) xấp xỉ 1%.

Kết quả hoạt động kinh doanh dự kiến của ngân hàng sau hợp nhất cho các năm 2013 – 2015 là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 2.138 tỷ đồng vào năm 2013, đạt 2.708 tỷ đồng vào năm 2014 và đạt 3.473 tỷ đồng vào năm 2015; lợi nhuận sau thuế tương ứng là 1.384 tỷ đồng, 1.767 tỷ đồng và 2.210 tỷ đồng.

Cần 37.000 tỷ đồng vốn “mồi” và cơ chế xử lý riêng nợ xấu

Báo cáo kết quả kinh doanh 2012 của WesternBank (chưa hợp nhất) và chưa được kiểm toán cho thấy, tổng tài sản đạt xấp xỉ 15.153 tỷ đồng, huy động vốn đạt 10.982 tỷ đồng, cho vay, đầu tư 7.134 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 64 tỷ đồng.

Đối với PVFC, trong hoạt động tín dụng của PVFC có 2 hạng mục đáng lưu ý, đó là các khoản tín dụng liên quan đến Vinashin và các khoản cho vay Vinalines. Dư nợ (gốc) tại thời điểm 31/5/2012 của Vinashin là 1.068 tỷ đồng và của Vinalines là 1.745 tỷ đồng. Việc xử lý hai khoản nợ xấu này đã và đang được PVFC thực hiện bằng cách kết hợp các biện pháp như: tích cực thu hồi nợ, xử lý tài sản đảm bảo và sử dụng nguồn quỹ dự phòng để trích lập dự phòng bổ sung. Ngoài ra, PVFC dự kiến sử dụng một phần lợi nhuận trong năm 2012 để bù đắp các tổn thất do hai khoản nợ nói trên gây ra.

Để đảm bảo việc hợp nhất được thành công, PVFC đề xuất PVN chỉ thực hiện giảm sở hữu tại PVFC theo lộ trình, trong điều kiện đảm bảo được sự ổn định và phát triển an toàn của PVFC cũng như ngân hàng hợp nhất sau này. Đồng thời, để đảm bảo trạng thái an toàn thanh khoản cho tổ chức tín dụng trước khi hợp nhất, PVFC đề nghị PVN gửi thêm cho PVFC số tiền 7.000 tỷ đồng với kỳ hạn tối thiểu 6 tháng. Hiện PVN đang sở hữu 78% vốn tại PVFC.

Ngoài ra, cả PVFC và WesternBank đề xuất Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho vay từ nguồn tái cơ cấu hệ thống NHTM khoảng 30.000 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng hợp nhất và tạo nguồn vốn để Ngân hàng có thể phát triển mảng tài trợ DNVVN, các doanh nghiệp xuất khẩu. Lãi suất cho vay từ nguồn tái cấp vốn thấp hơn lãi suất huy động khoảng 6%/năm để hỗ trợ ngân hàng hợp nhất bù đắp chi phí trực tiếp, chi phí phát sinh, thời hạn 3 – 5 năm.

Riêng dư nợ đối với Vinashin và Vinalines, PVFC đề nghị NHNN cho phép không tính vào tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng hợp nhất để có đủ điều kiện và thời gian tiến hành khắc phục. Đồng thời, đề nghị NHNN không tính chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế so với vốn chủ sở hữu bình quân, cũng như dư nợ của Vinashin và Vinalines trong khi thực hiện xếp loại tổ chức tín dụng và xét duyệt mở chi nhánh.

Hiện PVFC chưa công bố ngày ĐHCĐ để thảo luận về thương vụ hợp nhất này.

chi phí tài sản lợi nhuận tín dụng kinh doanh dự phòng chi phí trực tiếp doanh nghiệp xuất khẩu kết quả bão vốn điều lệ pvn an toàn ngân hàng tổng tài sản quỹ dự phòng trích lập dự phòng