Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

USD vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. USD chỉ sa sút phong độ trong ngắn hạn. Và khi kinh tế Mỹ hồi phục, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

Box: Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

Trang 1 / 2

Đồng USD vẫn chưa thể bị thay thế trong dự trữ và thanh toán toàn cầu. Đó là ý kiến của ông Jonathan Larsen, Tổng Giám đốc phụ trách bán lẻ và thẻ tín dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Citi (Mỹ) trong cuộc phỏng vấn với NCĐT, nhân dịp ông đến TP.HCM dự lễ khai trương dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng Citi tại Việt Nam.

Ông nghĩ gì về việc đồng USD đang yếu đi?

Hãy còn quá sớm để cho rằng đồng USD đã yếu thế. Trong quá khứ, đồng tiền này cũng từng nhiều lần gặp khó khăn nhưng rồi đã vươn lên lại. Hiện tại, đây vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. Vì vậy, nhu cầu sử dụng USD luôn ở mức cao. Và một khi kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ phục hồi, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

USD sẽ xuống giá đến mức nào trong tình hình hiện nay?

Trong ngắn hạn, USD có thể yếu đi vì Mỹ đang thâm hụt ngân sách hơn 1.400 tỉ USD. Nhưng USD yếu lại có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Mỹ.

Có nguồn tin cho rằng, các nước vùng Vịnh cùng Nga, Pháp, Trung Quốc và Nhật Bản muốn dùng đồng tiền khác dựa trên một rổ tiền tệ bao gồm đồng yên, euro, nhân dân tệ và một đồng tiền chung của vùng Vịnh (sẽ được tạo ra) để thay thế USD trong buôn bán dầu lửa. Theo ông, việc này có thể thành hiện thực hay không?

Đây là điều khó có thể xảy ra. Thứ nhất, USD vẫn là đồng tiền mạnh. Hơn nữa, rất ít quốc gia muốn biến đồng nội tệ của mình thành đồng tiền sử dụng trong thương mại toàn cầu và đồng tiền dự trữ của nước khác.Như vậy, họ sẽ phải chịu nhiều áp lực trong quan hệ kinh tế, thương mại, có thể gây tổn hại đến quyền lợi của quốc gia.

Nhưng họ cũng có thể tạo ra một đồng tiền quốc tế dựa trên đơn vị tiền tệ quy ước (SDR) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như đề nghị của Trung Quốc hồi tháng 3 vừa qua?

Một số nước từng trao đổi với nhau về khả năng này. Nhưng đây là điều khó thực hiện được, dẫu trong dài hạn.

Có phải khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự chấm dứt?

Câu trả lời là chưa có gì chắc chắn, mặc dù chúng ta đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Về thực chất, cuộc khủng hoảng đã diễn ra trong 3 giai đoạn, bắt đầu từ Mỹ rồi lan ra toàn cầu. Giai đoạn thứ nhất là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu do chứng khoán phái sinh có gốc bất động sản bị rớt giá nghiêm trọng, khiến nhà đầu tư mất niềm tin vào các định chế tài chính. Tiếp đến là tiêu dùng bị xuống dốc, chủ yếu do siết chặt tín dụng tiêu dùng.

Giai đoạn 1 nay đã qua rồi. Thị trường chứng khoán đã phục hồi và nhà đầu tư đã lấy lại niềm tin đối với một số công cụ tài chính. Nhưng giai đoạn 2 thì vẫn chưa chấm dứt, mới qua được điểm đỉnh mà thôi; nhiều người vẫn bị phá sản, không trả được nợ vay ngân hàng. Gần đây, các ngân hàng đã bớt thắt chặt tín dụng, cho giãn thời hạn thanh toán. Vì thế, mặc dù rủi ro vẫn còn, nhưng giai đoạn 2 của cuộc khủng hoảng đã lắng dịu.

Tuy nhiên, giai đoạn 3 của cuộc khủng hoảng vẫn đang diễn ra trong khu vực bất động sản thương mại. Tình trạng các khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn bị đóng cửa, đặc biệt là ở Mỹ, vẫn diễn ra thường xuyên. Các bất động sản này đang xuống giá, nên có một số nhà đầu tư nhảy vào lĩnh vực này để nắm bắt cơ hội mua tài sản với giá rẻ. Nhưng nói chung, đây vẫn là khu vực nhạy cảm.

Tin vui là nền tài chính thế giới đã ổn định trở lại. Các ngân hàng lớn trên thế giới không còn đối mặt với tình trạng thiếu vốn nữa, dẫu chưa phải tất cả đã bình thường.

Ông có cho rằng sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng mới nữa như cảnh báo của một số nhà kinh tế?

Tôi không nghĩ như họ. Đừng quên là ngân hàng trung ương các nước đều chống lưng cho các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và cho cả hệ thống tài chính.

Nhà đầu tư đang rất hồ hởi trước sự phục hồi của kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế châu Á. Có thể lạc quan như vậy không, thưa ông?

Nhà đầu tư hồ hởi cũng đúng thôi. Lấy ví dụ về nền kinh tế Singapore. Đây là nền kinh tế hướng đến xuất khẩu, giống như nhiều nền kinh tế châu Á khác. Giá trị xuất khẩu của Singapore tương đương 250% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và quý I năm nay, xuất khẩu của đảo quốc này đã giảm đến 40% so với cùng kỳ năm 2008, khiến tăng trưởng GDP bị âm.

Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng trở lại đây, các hoạt động kinh tế của Singapore đã nhộn nhịp trở lại, đặc biệt là trong ngành điện tử. Một phần là do nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc gia tăng nhờ gói kích cầu khổng lồ 586 tỉ USD của Chính phủ. Hoạt động nhập khẩu của châu Âu phục hồi (nhờ vào các chương trình kích thích kinh tế của các chính phủ) cũng góp phần vào sự phục hồi của Singapore.

Nhưng đâu là nhu cầu lớn nhất của thế giới?

Đây là điều cần phải xem xét cẩn thận. Cần biết rằng, Mỹ là nền kinh tế trị giá 14.000 tỉ USD mà 70% trong số đó là tiêu dùng. Người Mỹ thì mua hàng của cả thế giới, nhưng nay lại gia tăng tiết kiệm. Cần phải có thời gian để nhu cầu tiêu dùng ở Mỹ phục hồi. Tôi lạc quan trong ngắn hạn đối với tăng trưởng của một số nền kinh tế châu Á, nhưng về dài hạn thì cần phải theo dõi thêm. Phát triển có bền vững hay không mới là quan trọng.

Trang12Trang kế tiếp

Từ khoá: kinh tế thế giới thế giới kinh tế nhu cầu tiêu dùng khủng hoảng trung quốc ngân hàng tín dụng xuất khẩu singapore tài chính động sản gia thanh toán nhu cầu tiêu dùng tổng giám đốc bất động sản thị trường chứng khoán nền kinh tế chứng khoán toàn cầu

Advertisements

Trộm tiền từ thẻ ATM

Các chuyên gia an ninh mạng khuyên chủ thẻ nên chọn dịch vụ thanh toán thông qua các ngân hàng có giải pháp bảo mật cao

Dịch vụ mua hàng hóa trực tuyến ngày càng nâng cấp gắn liền với ngân hàng (NH) điện tử (Internet Banking), kết nối thông tin với điện thoại di động, đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng. Tuy nhiên, nếu chủ thẻ mất cảnh giác, kẻ gian có thể tận dụng các kẽ hở để rút tiền từ ATM. Gần đây đã xuất hiện thêm nhiều thủ đoạn mới.

Trộm tiền từ thẻ ATM

Để tránh bị kẻ gian trộm tiền, người sử dụng thẻ ATM cần chủ động bảo mật thông tin. Ảnh: Hồng Thúy

Đánh cắp sim điện thoại

Để tiện lợi cho việc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, nhiều chủ thẻ ATM đăng ký số điện thoại di động với NH. Theo đó, các NH sẽ cung cấp mã số xác thực bằng tin nhắn gửi đến số điện thoại của chủ thẻ với mỗi lần giao dịch trực tuyến.

Lợi dụng kết nối này, kẻ gian thường dò tìm số thẻ, tên của chủ thẻ, đánh cắp sim điện thoại của chủ thẻ rồi tiến hành mua hàng hóa qua mạng. Vụ việc gần nhất là một chủ thẻ ở Hà Nội bị người khác làm giả CMND rồi đến một đại lý điện thoại di động đề nghị cấp lại sim mới. Do số điện thoại của chủ thẻ có liên kết với NH nên mỗi lần giao dịch, NH đều gửi đến số điện thoại này mã số xác thực. Với sim điện thoại đánh cắp và các mã số xác thực, kẻ gian đã thực hiện 4 giao dịch mua hàng hóa trực tuyến làm cho chủ thẻ mất hàng chục triệu đồng…

Theo một số chuyên viên Trung tâm Thẻ Eximbank, trước khi bị mất sim điện thoại, có thể chủ thẻ đã để lộ thông tin cá nhân cho người khác biết. Sau khi có được số thẻ và tên của chủ thẻ, kẻ gian mới tính đến việc đánh cắp sim điện thoại. Bởi khi mua hàng qua mạng, người mua phải nhập tên chủ thẻ, số thẻ, số tiền thanh toán…, sau đó sẽ nhận được mã số xác thực qua tin nhắn điện thoại rồi nhập vào hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ, giao dịch mới thực hiện được.

Trường hợp đánh cắp được thẻ tín dụng quốc tế thì kẻ gian chỉ cần đột nhập hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ tên, số thẻ được in trên mặt trước và 3 chữ số cuối của dãy 7 chữ số được in trên mặt sau thẻ tín dụng là mua được hàng hóa qua mạng, đồng nghĩa người mất thẻ tín dụng đã mất tiền.

Thủ đoạn tinh vi

Một chiêu thức khác là kẻ gian dùng máy nghe nhạc MP3 để ghi lại tiếng động khi chủ thẻ bấm bàn phím tại các máy ATM đặt ở nhà hàng, siêu thị… Dữ liệu được chuyển thành những con số có thể đọc được thông qua chương trình máy tính. Tinh vi hơn, chúng còn dùng một bàn phím giả đặt lên bàn phím máy ATM để truyền số PIN của chủ thẻ về điện thoại hoặc máy tính, rồi dùng thẻ giả rút tiền trót lọt.

Một lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cho biết chiêu thức “rút ruột” ATM phổ biến nhất là kẻ gian sử dụng nickname người thân của chủ thẻ để chat với chủ thẻ, rồi đưa ra lý do hợp lý, thuyết phục chủ thẻ cho mượn tiền để thanh toán tiền mua hàng hóa. Do cứ nghĩ người chat với mình là người thân nên nhiều chủ thẻ cả tin chuyển tiền vào tài khoản mà kẻ gian đưa ra.

Theo các NH, bọn tội phạm còn giả danh NH gửi email yêu cầu chủ thẻ cung cấp thông tin cá nhân hoặc gửi virus chiếm quyền điều khiển máy tính. Khi chủ thẻ truy cập vào một website chính thống sẽ bị chuyển đến một website giả mạo. Mọi thông tin mà chủ thẻ nhập vào website giả mạo sẽ bị kẻ xấu sử dụng để rút tiền từ thẻ ATM…

Từ khoá: hàng hóa tín dụng máy tính dịch vụ trực tuyến thanh toán bảo mật thông tin gia thông tin atm điện thoại cung cấp

Tăng giá điện, khó tránh tác động đến sản xuất và giá cả

(HNM) – Như Báo Hànộimới đã đưa tin, từ ngày 1-8-2013, giá bán điện bình quân là 1.508,85 đ/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng), tăng 5% so với giá bán điện bình quân áp dụng trước đó (1.437 đ/kWh).

Việc điều chỉnh giá điện được lý giải là để bù đắp phần chi phí phát điện tăng lên do tăng giá than, tăng giá khí, quyết toán sản lượng vượt bao tiêu khí và bù đắp một phần chênh lệch tỷ giá còn tồn của các năm trước chưa tính hết vào giá bán điện. Dù đã được nghiên cứu để hạn chế tối đa ảnh hưởng đến người nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nhưng khó tránh tác động đến các ngành sản xuất.

Bù đắp một phần chi phí tăng thêm

Theo Thông tư số 19/2013/TT-BCT ngày 31-7-2013 của Bộ Công thương quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện, từ ngày 1-8-2013, giá điện bán lẻ bình quân được áp dụng sẽ tăng 5% từ 1.437 đ/kWh lên 1.508,85 đ/kWh.

Giá điện được áp dụng từ ngày 1-8-2013 ít ảnh hưởng đến người nghèo. Ảnh: Trung Kiên
Giá điện được áp dụng từ ngày 1-8-2013 ít ảnh hưởng đến người nghèo. Ảnh: Trung Kiên

Theo Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường, cứ 3 tháng Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải có trách nhiệm cập nhật một lần các thông số cơ bản về giá nhiên liệu (giá than, dầu, khí); biến động tỷ giá (chủ yếu là USD) và cơ cấu sản lượng điện phát để làm cơ sở điều chỉnh giá bán điện. Như vậy, tính từ thời điểm điều chỉnh giá bán điện gần nhất là tháng 12-2012 đến 31-7-2013, tỷ giá bình quân gia quyền tăng 0,4%; giá than cho sản xuất điện bình quân gia quyền tăng 35,7%; giá khí tăng 2,2% và giá dầu (DO, FO cho sản xuất điện) tăng 9,6%, trong khi đó, theo cơ cấu sản lượng điện phát so với phương án tính toán, nhiệt điện than tăng 19%; khí tăng gần 6%.

Việc tăng giá than và khí cùng với tăng sản lượng phát từ hai nguồn chiếm tới 55%-65% tổng sản lượng phát toàn hệ thống đã khiến cho chi phí khâu phát điện tăng đáng kể. Chi phí sản lượng phát điện bằng nguồn nhiên liệu than tăng 5.198 tỷ đồng; sản lượng phát điện bằng khí chi phí tăng hơn 1.593 tỷ đồng. Chi phí tăng thêm từ nguồn than và khí đã chiếm từ 80-90% tổng chi phí tăng thêm trong thời gian từ tháng 12-2012 đến 31-7-2013.

Với áp lực này, lại thêm phải phân bổ lỗ từ 2011 và chênh lệch tỷ giá đánh giá lại từ năm 2012 về trước. Năm 2011, khoản lỗ của EVN gần 11.500 tỷ đồng, năm 2012, sản xuất kinh doanh của EVN có lãi nên đã bù được một phần, khoản lỗ còn lại là 7.962 tỷ đồng; chênh lệch tỷ giá từ 26.000 tỷ đồng (năm 2011) còn 15.114 tỷ đồng. Như vậy, tổng khoản lỗ của EVN đã giảm từ 38.000 tỷ đồng xuống còn 23.000 tỷ đồng.

Với một báo cáo tài chính lỗ như EVN hiện nay sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn từ trái phiếu doanh nghiệp hoặc vay từ các tổ chức tín dụng. Do đó cần một lộ trình giá điện để cải thiện dần các chỉ tiêu tài chính của EVN, tạo điều kiện cho EVN huy động được các nguồn vốn khác trong thời gian tới. Theo Quyết định 854/QĐ-TTg ngày 10-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm (2011-2015) của EVN, lộ trình giá điện được tính toán hợp lý trên các nguyên tắc sau: Thực hiện phân bổ các khoản lỗ do sản xuất kinh doanh điện chưa tính hết vào giá điện từ trước năm 2011 cho các năm 2012 và 2013. Phân bổ các khoản chênh lệch tỷ giá trong các giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015. Từng bước nâng dần giá bán điện để đến năm 2013 giá bán điện bình quân theo giá thị trường. Đến năm 2015 các chỉ tiêu tài chính đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính cho vay vốn. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 3 lần; tỷ lệ tự đầu tư lớn hơn 30%; hệ số thanh toán nợ lớn hơn 1,5 lần.

Điều này có nghĩa là giá điện phải phản ánh đầy đủ chi phí đầu vào hợp lý và ngành điện phải đạt được lợi nhuận nhất định để có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc đủ điều kiện để phát hành trái phiếu doanh nghiệp bảo đảm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cung ứng điện và đầu tư nguồn điện, hệ thống lưới điện trong tương lai. Tuy nhiên, chi phí đầu vào trong các khâu sản xuất, kinh doanh điện cần phải được kiểm soát hết sức chặt chẽ để bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả trong hoạt động của ngành điện, giảm áp lực tăng giá điện.

Nếu từ nay đến hết năm, không có biến động về tỷ giá sẽ đáp ứng được các tiêu chí, chỉ tiêu về tài chính của các tổ chức tín dụng cho vay tiền đầu tư. Nếu chính sách điều chỉnh tỷ giá có biến động sẽ có tác động xấu đến bức tranh tài chính của EVN vào 5 tháng cuối năm, chưa kể, biến động giá than, khí, xăng dầu…

Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VII, từ nay đến năm 2030, mỗi năm sẽ đưa 5.000MW nguồn mới vào vận hành và xây dựng công trình trạm, đường dây đồng bộ với tổng vốn đầu tư cho tới năm 2020 là khoảng 5 tỷ USD, từ năm 2020 tới 2030 khoảng 60 tỷ USD. Vì vậy, nếu sản xuất kinh doanh của EVN rơi vào tình trạng thua lỗ như năm 2010 và 2011 sẽ khó khăn vay vốn để tiếp tục triển khai các dự án. EVN cho biết, trong giai đoạn 2011-2015, EVN có nhu cầu đầu tư hơn 500.000 tỷ đồng.

Tiết kiệm để giảm chi phí – không thể khác

Theo Bộ Công thương, căn cứ vào dự báo sản lượng điện thương phẩm năm 2013, đánh giá tác động của việc tăng giá điện 5% so với giá bình quân đang áp dụng, chi phí của nhiều lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến sinh hoạt của người dân sẽ tăng. Cụ thể, các ngành sản xuất sẽ tăng chi phí thêm hơn 1.800 tỷ đồng; nhóm hành chính sự nghiệp tăng khoảng 146 tỷ đồng; ngành kinh doanh, dịch vụ tăng khoảng 326 tỷ đồng và tác động trực tiếp khiến CPI tăng 0,123%. Bên cạnh đó cần phải tính đến sự gia tăng chi phí của một số yếu tố đầu vào khác, trong đó đáng kể là xăng dầu đã nhiều lần điều chỉnh tăng giá bán lẻ trong thời gian qua sẽ có tác động trực tiếp tới nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế – xã hội.

Giá bán điện bình quân cho các ngành sản xuất từng bước tiến tới không thấp hơn giá thành sản xuất kinh doanh điện, nhưng giữ ổn định giá bán điện cho người sử dụng điện tiết kiệm bằng hoặc dưới 50 kWh/tháng, hạn chế tác động giá điện đối với hộ sử dụng đến 100k Wh/tháng, không ảnh hưởng đến người nghèo. Theo đó tiếp tục giữ nguyên như giá bán hiện hành đối với hộ sử dụng từ 0-50 kWh; hộ sử

dụng từ 0-100 kWh/tháng sẽ tăng 6.800 đồng/tháng; hộ sử dụng 101 kWh/tháng-150 kWh/tháng tăng 10.650 đồng/tháng; hộ sử dụng 151 kWh/tháng-200 kWh/tháng tăng 15.500 đồng/tháng; hộ sử dụng 201 kWh/tháng-300 kWh/tháng tăng 26.000 đồng/tháng và hộ sử dụng từ 301 kWh/tháng-400 kWh/tháng sẽ tăng 37.200 đồng/tháng.

Với việc tăng giá bán điện lần này cho thấy có tăng nhưng ở mức kiềm chế do chỉ bù đắp một phần chi phí tăng thêm từ tăng giá than, khí. Bởi, theo dự báo sản lượng điện theo kế hoạch năm 2013 là 117 tỷ kWh, giá bán điện lẻ bình quân tăng thêm từ ngày 1-8-2013 là 5%, như vậy chỉ còn 5 tháng còn lại doanh thu tăng thêm là 3.600 tỷ đồng, trong khi đó chi phí tăng thêm từ sản xuất điện bằng nguồn than và dầu khí hơn 6.000 tỷ đồng.

Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều giải pháp giải quyết cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp duy trì ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ, bảo đảm an sinh xã hội. Những giải pháp của các cấp, ngành hỗ trợ và nỗ lực tự thân của doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, vật tư nhằm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm cũng cần được triển khai đồng bộ. Trong đó “tiết kiệm là quốc sách” luôn là giải pháp cần được coi trọng trên các lĩnh vực.

Như vậy, tính trên tổng thể, tăng giá điện (mặc dù để bù đắp chi phí ngành điện) là hợp lý, nhưng cùng với việc tăng giá xăng, ga, khí (những nguyên liệu đầu vào quan trọng trong sản xuất, kinh doanh) đã làm cho giá cả đội lên. Giữa điều tiết vi mô và vĩ mô có những vấn đề phức tạp: không tăng giá điện, ngành điện sẽ lỗ lớn, không duy trì hoạt động tốt được; nhưng tăng giá điện thì góp phần đẩy giá cả nói chung lên cao hơn; trong khi đó tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nước ta chưa dừng lại, thu nhập, việc làm của người dân đang khó khăn, trị giá đồng lương lại giảm… Xử lý hài hòa các vấn đề “liên thông” nhau như vậy không hề đơn giản. Riêng đối với việc tăng giá điện, nói không ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, đến người nghèo là chưa đúng. Vấn đề ở đây là phương án giá, vận dụng giá đối với các đối tượng phải được chọn ở mức ảnh hưởng thấp nhất có thể. Tiếp đó, “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi phí, là cách làm không thể khác của tất cả các thành phần kinh tế, thành phần xã hội trong giai đoạn này. Bởi vì, Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn cũng chỉ ở mức độ nhất định. Muốn vượt thoát, các doanh nghiệp phải tiết kiệm chi phí và tìm hướng đi mới – ngành điện cũng không ngoại lệ, mà phải trở thành điển hình của tiết kiệm chi phí. Khi trở thành điển hình của tiết kiệm chi phí, ngành điện mới không bị “truy vấn” về lý do tăng giá điện như hiện nay.

Hà Nội: Hơn 2.700 công nhân tham gia chốt chỉ số công tơ

(HNM) – Sáng 1-8, hơn 2.700 công nhân Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HANOI) đã đồng loạt ra quân thực hiện chốt chỉ số công tơ cho gần 143.000 khách hàng ký hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt.

Chuẩn bị cho việc áp giá điện mới, các Công ty Điện lực đã gửi giấy thông báo kế hoạch chốt chỉ số công tơ tới tất cả các khách hàng ký hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt và đề nghị phối hợp cùng điện lực trong việc giám sát kiểm tra việc chốt chỉ số công tơ.

Từ khoá: dịch vụ kinh doanh nền kinh tế người nghèo tín dụng bão giải pháp kinh tế gia chất lượng sản phẩm tiết kiệm nâng cao chất lượng doanh nghiệp thuế giá trị gia tăng chính phủ giá trị gia tăng evn khó khăn tài chính chi phí giá thành sản xuất vay vốn kế hoạch

Dịch vụ du lịch trốn thuế

Nhiều dấu hiệu cho thấy các trang mạng bán phòng trực tuyến của nước ngoài hiện nay đang khai thác tới 80% thị phần khách sạn ở VN nhưng không đóng đồng thuế nào.

>> Giao lưu trực tuyến: Văn hóa ứng xử trong du lịch

>> Hội An và du lịch di sản

>> Du lịch ‘xổi

>> Nhà vườn làm du lịch

>> Cái “ưu tiên” của du lịch

Kinh doanh bất hợp pháp

Điện thoại vào số tổng đài miễn phí 120… của hãng du lịch trực tuyến E. (Mỹ), chúng tôi được chỉ dẫn bằng tiếng Anh để gặp tư vấn viên. Ở đầu dây bên kia, một cô nói tiếng Việt nhấc máy hỏi nhu cầu đặt phòng khách sạn, chuyến bay hay mua gói kỳ nghỉ. Cô tự nhận mình đang làm việc ở văn phòng tại Kuala Lumpur (Malaysia) và khẳng định, hãng này chưa có văn phòng đại diện ở VN. Mọi dịch vụ đều được giao dịch online và điện thoại, không gặp trực tiếp. Trang web của E. từ nhiều năm nay đã có giao diện tiếng Việt (đuôi .vn) cho khách Việt mua dịch vụ ở trong nước, nước ngoài hoặc các thứ tiếng khác cho khách nước ngoài vào VN.

Tương tự, trang mạng chuyên bán phòng khách sạn cũng của E. cũng có giao diện tiếng Việt. Nhân viên tư vấn cũng cho biết chỉ tiếp khách qua điện thoại, làm việc qua mạng, giao dịch tài chính đều qua thẻ tín dụng khi mua dịch vụ và cũng chưa có văn phòng đại diện ở VN. Tuy nhiên, theo một doanh nghiệp (DN) VN kinh doanh ở lĩnh vực này, cả hai trang web mà chúng tôi đề cập đều có nhân viên ở VN để làm việc với khách sạn.

Trang mạng bán phòng trực tuyến Agoda lại đặt văn phòng đại diện tại TP.HCM, do ông Nguyễn Ngọc Trang phụ trách. Trong nội dung đăng ký với Sở Công thương TP.HCM, trang mạng này cho biết văn phòng đại diện không kinh doanh và thuộc Agoda International Singapore. Nhưng với giao diện tiếng Việt, Agoda đã nhiều năm dẫn đầu thị trường đặt phòng trực tuyến ở VN. Trong bảng giá, thay vì công bố bằng tiền đồng, Agoda để giá USD.

Những năm gần đây, xu hướng đặt phòng, mua vé máy bay, mua tour du lịch qua mạng trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ bởi dịch vụ này tiết kiệm thời gian, tiện ích. Ngoài ra, xu hướng du khách thế giới và cả khách VN ngày càng thích tự do trong chuyến đi hơn vì không muốn phụ thuộc vào chương trình của nhà tổ chức và các nhóm khách ghép đoàn. Đây cũng là một trong những lý do vì sao lượng khách quốc tế vào VN và khách du lịch VN mỗi năm đều tăng, nhưng các công ty du lịch thì làm ăn khó khăn. Trong khi, các trang mạng có quy mô toàn cầu lại… kinh doanh phát đạt, liên tục mở rộng tầm ảnh hưởng ở VN.

Dịch vụ du lịch trốn thuế

Không kiểm soát được nguồn thu từ du khách mua dịch vụ du lịch qua mạng – Ảnh: D.Đ.M

“Lọt sổ” cơ quan thuế

Theo giám đốc một công ty bán phòng qua mạng của VN (đề nghị không nêu tên) thì các trang mạng bán phòng trực tuyến nước ngoài đang kinh doanh ở thị trường VN bất hợp pháp. Họ không thể xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng (VAT) cho khách hàng theo quy định. Do đó, sẽ xảy ra một dây chuyền “trốn thuế” hoàn chỉnh từ nhà cung cấp (các trang mạng) đến khách sạn. Đó là một dây chuyền không có hóa đơn và không thuế. “Tiền của khách mua phòng lại được chuyển hoàn toàn ra nước ngoài và chúng ta không thu được thuế”, vị giám đốc này phát biểu.

Luật sư Trần Xoa, Giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang, cho rằng nếu DN trong nước mua dịch vụ của nước ngoài nhưng không có cơ sở kinh doanh ở VN thì DN nước ngoài phải chịu thuế nhà thầu. Phía VN phải có nghĩa vụ khấu trừ thuế VAT và thuế thu nhập DN trước khi chuyển tiền cho nước ngoài đồng thời phải khai thuế nhà thầu nộp cho cơ quan thuế. Bởi cơ quan thuế không quản được phía nước ngoài thì phải “nắm tóc” người mua dịch vụ (DN) VN.

Nhưng, đối với người dùng cá nhân, mua dịch vụ bằng thẻ tín dụng, không có sổ sách kế toán thì không có biện pháp nào quản lý. Còn trường hợp các khách sạn bán phòng cho trang mạng nước ngoài, thì khách sạn chịu thuế nhưng phần phát sinh doanh thu của các trang mạng ở VN thì “lọt sổ”. Theo luật sư Xoa, trong kinh doanh qua mạng hiện nay, mặc dù thấy gian lận nhưng lại nằm ngoài tầm tay của cơ quan thuế vì các trang mạng nằm ở nước ngoài; người dùng cá nhân thì cũng không quản lý được… Cho nên, chỉ còn cách kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ các công ty có đóng thuế.

Cơ quan thuế cũng lúng túng khi tiếp cận vụ việc vì tiền của khách mua phòng được chuyển thẳng ra nước ngoài chứ không qua văn phòng đại diện như kiểu của Agoda tại VN.

Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Đình Tấn, Cục trưởng Cục Thuế TP.HCM, cho biết sẽ yêu cầu phòng chức năng mời văn phòng đại diện Agoda lên làm việc để giải trình rõ các vấn đề liên quan đến hoạt động ở VN. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, trong lĩnh vực bán hàng qua mạng, cơ quan thuế chưa quản lý được triệt để. Thời gian qua, cơ quan thuế cũng có một chuyên đề khảo sát về thu thuế kinh doanh qua mạng nhưng chưa đạt hiệu quả.

Theo ước tính của ông Vũ Thế Bình, Phó chủ tịch Hiệp hội Du lịch VN, năm 2012 có khoảng 3,5 triệu lượt người VN đi du lịch nước ngoài với con số chi tiêu 3,5 tỉ USD. Cùng lúc, có hơn 30 triệu lượt khách du lịch trong nước và gần 7 triệu lượt khách nước ngoài vào VN. Mới chỉ có khoảng 4 công ty VN tham gia vào lĩnh vực này với quy mô rất nhỏ và chủ yếu khai thác thị trường khách nội địa. Phần lớn miếng bánh tỉ đô còn lại rơi vào tay các trang mạng nước ngoài.
Rủi ro lớn

Trên một số diễn đàn du lịch, nhiều người phàn nàn đặt phòng trực tuyến qua mạng nước ngoài gặp rủi ro lớn vì phải đặt cọc trước bằng thẻ tín dụng, nhưng đến khi nhận phòng khách sạn không đúng yêu cầu, thì rất khó nhận được động thái xử lý kịp thời. Do các trang mạng đều ở nước ngoài, văn phòng đại diện ở VN lại không có chức năng. Chúng tôi cũng đã liên lạc với ông Nguyễn Ngọc Trang, phụ trách Agoda VN, để đặt câu hỏi phỏng vấn, nhưng ông Trang từ chối và cho biết ông không được phép trả lời báo chí hoặc các cơ quan chức năng.

N.Trần Tâm

Từ khoá: văn phòng đại diện thuế giá trị gia tăng bán hàng qua mạng văn phòng tín dụng du lịch gia giám đốc người tiêu dùng dẫn đầu thị trường kinh doanh khách du lịch thị trường trực tuyến công ty dịch vụ giá trị gia tăng

Các ngân hàng đang ‘khỏe’ nhất trong 13 tháng

Tổng tài sản, vốn tự có và vốn điều lệ của các ngân hàng đều tăng mạnh, trong đó mức tăng dẫn đầu ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố số liệu về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trong hệ thống, cập nhật đến ngày 31/5/2013. Theo đó, tổng tài sản, vốn điều lệ và vốn tự có của các ngân hàng đều tăng mạnh so với tháng 4 và đầu năm, đồng thời đang ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2012 – thời điểm NHNN bắt đầu công khai các số liệu “quý hiếm” này theo Thông tư số 35/2011.

Tổng tài sản vượt 5,2 triệu tỷ

Số liệu cho thấy, tổng tài sản của các tổ chức tín dụng (gồm các Ngân hàng thương mại Nhà nước -NHTMNN; ngân hàng thương mại cổ phần – NHTMCP; ngân hàng liên doanh, nước ngoài; công ty tài chính, cho thuê; quỹ tín dụng Trung ương) đã lên đến hơn 5,2 triệu tỷ đồng, sau khi tăng hơn 41.500 tỷ đồng trong tháng 5. Tuy nhiên, mức tăng này chỉ đến từ nhóm NHTMNN với 45.350 tỷ đồng và nhóm các ngân hàng liên doanh, nước ngoài với 132 tỷ đồng. Tổng tài sản của nhóm các NHTMCP giảm nhẹ 34 tỷ trong khi của các công ty tài chính, cho thuê giảm hơn 3.100 tỷ.

So với cuối năm 2012, tổng tài sản của toàn hệ thống tăng thêm gần 140.000 tỷ, tương đương 2,74%, với mức tăng chủ yếu đến từ các NHTMNN gần 64.000 tỷ đồng (2,9%), của NHTMCP hơn 22.500 tỷ (1,04%) và của các ngân hàng liên doanh, nước ngoài gần 54.000 tỷ (9,7%). Tính đến hết tháng 5, tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đã có 3 tháng tăng liên tiếp là tháng 3, 4, 5, sau 2 tháng sụt giảm trước đó.

Tăng trưởng tổng tài sản của các tổ chức tín dụng 5 tháng đầu năm.

Vốn tự có tăng lần đầu tiên kể từ đầu năm

Không chỉ có tổng tài sản mà vốn tự có của các ngân hàng cũng tăng đáng kể trong tháng 5 vừa qua lên trên 437.000 tỷ đồng, so với gần 419.000 tỷ đồng hồi cuối tháng 4. Dẫu vậy, cũng như tổng tài sản, vốn tự có chỉ tăng mạnh và chiếm áp đảo ở nhóm NHTMNN với hơn 17.200 tỷ đồng lên trên 153.000 tỷ. Nhóm các NHTMCP chỉ tăng vốn tự có đượ chơn 1.000 tỷ, lên trên 176.200 tỷ.

So với cuối năm 2012, vốn tự có của các NHTMNN tăng được hơn 15.800 tỷ trong khi của các NHTMCP giảm gần 6.900 tỷ. Vốn tự có của toàn hệ thống tăng tổng cộng hơn 11.300 tỷ trong 5 tháng qua. Tháng 5 cũng là tháng đầu tiên vốn tự có của các ngân hàng tăng trở lại, sau khi sụt giảm liên tục trong 4 tháng trước đó.

Tăng trưởng vốn tự có của các tổ chức tín dụng 5 tháng đầu năm.

Vốn điều lệ tăng hơn 6.400 tỷ

Tháng 5 cũng ghi nhận việc tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng chuyển biến mạnh nhất kể từ đầu năm, khi nhóm NHTMNN (bao gồm cả Vietcombank và Vietinbank) tăng được hơn 6.400 tỷ so với cuối tháng 4. Các nhóm tổ chức tín dụng khác trong khi đó hầu như không thay đổi vốn điều lệ. So với cuối năm 2012, vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng tăng chưa đầy 8.000 tỷ, tương đương 2,03%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tăng

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các tổ chức tín dụng đạt 14,25% tại thời điểm cuối tháng 5, trong đó cao nhất thuộc về quỹ tín dụng Trung ương với hơn 37%, tiếp đến là nhóm các ngân hàng liên doanh, nước ngoài với gần 30%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các NHTMCP cao hơn so với của các NHTMNN, ở mức gần 13%.

Về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động trên thị trường 1, các NHTMCP đang có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 76%, trong khi của nhóm NHTMNN là 95,6% và của toàn hệ thống là 87%.

Nguyên nhân khiến cho tỷ lệ này yếu ở các NHTMCP là do nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc đẩy nguồn vốn ra ngoài bởi sức hấp thụ vốn của doanh nghiệp không mạnh và lãi suất còn cao, trong khi cũng có nhà băng hạn chế cho vay vì e ngại nợ xấu.

Theo CafeF/Trí Thức Trẻ

Từ khoá: vốn điều lệ tài sản nhà nước tăng vốn điều lệ ngân hàng an toàn tín dụng liên doanh tổng tài sản

NHNN yêu cầu phải đạt tăng trưởng tín dụng 12%

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Chỉ thị 03/CT-NHNN về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng trong những tháng cuối năm 2013.

Một trong những điểm đáng chú ý của Chỉ thị 03 là cách tiếp cận đối với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% trong năm nay. Tại Chỉ thị 01/CT-NHNN ban hành hồi cuối tháng 1, các đơn vị tại trụ sở chính NHNN được yêu cầu kiểm soát tăng trưởng tín dụng đề phù hợp với khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% chỉ là “định hướng”.

Ngược lại, trong Chỉ thị 03, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng “đạt” mức tăng trưởng tín dụng 12% của toàn ngành qua thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả. Các đơn vị tại trụ sở chính NHNN có thể “xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các tổ chức tín dụng có khả năng.”

Về vàng, trong Chỉ thị 03 có đoạn yêu cầu các tổ chức tín dụng “xây dựng, triển khai lộ trình tất toán số dư cho vay vốn bằng vàng”.

Nghiệp vụ giữ hộ vàng từng gây xôn xao dư luận trong thời gian vừa qua được cảnh báo phải “hạch toán đúng tính chất tài khoản giữ hộ” và “không sử dụng vàng giữ hộ để cầm cố, thế chấp và ký quỹ bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại các tổ chức tín dụng khác”.

Về công tác truyền thông, Chỉ thị 03 căn dặn các tổ chức tín dụng “tích cực phối hợp chặt chẽ với Văn phòng NHNN Việt Nam trong triển khai công tác truyền thông toàn ngành Ngân hàng”.

Hiện ngành ngân hàng đang đẩy mạnh nhiều chương trình tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn nói chung và một số ngành cụ thể như “chăn nuôi cá tra”, “cho vay thu mua tạm trữ lương thực, cà phê”, …

Việt Dũng

Theo Trí Thức Trẻ

Từ khoá: tín dụng tăng trưởng ngân hàng

Hội thảo về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Hội thảo về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Tường Nguyên

(TBKTSG Online) – Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa) sẽ phối hợp với Công ty TNHH Bảo Việt Tokio Marine tổ chức hội thảo “Lợi ích tài chính của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu” vào ngày 18-7 tại TPHCM.

Thông tin từ Hawa cho biết, sau nhiều năm khủng hoảng, đến nay các nhà nhập khẩu đang có xu hướng mua hàng theo phương thức thanh toán T/T (thanh toán sau) nhiều hơn phương thức thanh toán LC.

Các doanh nghiệp xuất khẩu vì yếu tố cạnh tranh phải chấp nhận phương thức thanh toán T/T để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên điều này sẽ dẫn đến những rủi ro trong thanh toán như: người mua hàng vỡ nợ, phá sản hoặc trì hoãn thanh toán… Vì vậy, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có thể được xem là công cụ hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp.

Nội dung được trình bày tại hội thảo gồm: thế nào là bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, lợi ích và quy trình; chi phí tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và gói hỗ trợ của Chính phủ cho các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu v.v.

Địa điểm tổ chức hội thảo: khách sạn Quê Hương, 265 Phạm Ngũ Lão, quận 1, TPHCM.

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ: Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM; ĐT: (08) 38364766 (nhấn số 88); Fax: (08) 38364722; E-mail: hawavn@gmail.com; hoặc gặp cô Ngọc Hiếu – ĐTDĐ: 0944736530.

Từ khoá: tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bão bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tín dụng bảo việt tokio marine bảo hiểm doanh nghiệp thanh toán bảo hiểm tín dụng doanh nghiệp xuất khẩu tphcm xuất khẩu tham gia bảo hiểm

Doanh nghiệp huy động vàng: Rủi ro thì người gửi trắng tay

Sau thời hạn “đóng” trạng thái huy động cho vay vàng của các ngân hàng thương mại (NHTM), khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới vẫn chưa giảm như kỳ vọng.

Đồng thời, khi ngân hàng nhà nước (NHNN) yêu cầu các NHTM chấm dứt huy động và cho vay vàng thì lại xuất hiện những doanh nghiệp kinh doanh vàng thực hiện việc huy động vàng trong dân. Điều này có thể khiến thị trường vàng lại đối mặt với thách thức mới đòi hỏi có sự hướng dẫn cụ thể của NHNN nhằm ổn định thị trường.

Sau ngày 30/7, nhu cầu vàng trên thị trường vẫn rất cao. (Ảnh: Dân trí)

Đã hơn 1 tuần kể từ sau thời hạn 30/6, thời điểm mà các NHTM đóng trạng thái huy động và cho vay vàng nhưng NHNN vẫn phải liên tiếp tổ chức phiên đấu thầu để tăng cung ra thị trường vì nhu cầu vàng trên thị trường vẫn rất cao.

Nhu cầu đó xuất phát từ cả phía người dân và NHTM, bởi theo thông tin từ NHNN chi nhánh TP HCM thì vẫn còn 3 ngân hàng chưa hoàn thành việc tất toán với khoảng 490 lượng, riêng đối với trạng thái cho vay vàng, số lượng còn khoảng 9 tấn.

Nhiều ngân hàng còn chưa tất toán được số lượng vàng đã cho khách hàng vay và họ đang đàm phán chuyển đổi các hợp đồng vay vàng sang tiền đồng. Tuy nhiên, để thực hiện không đơn giản vì số vàng huy động gần như không còn, trong khi lượng vàng cho vay còn khá cao. Vì vậy những ngân hàng này sẽ phải mua vàng cân đối trạng thái.

Trong khi đó, một số ngân hàng thực hiện việc chấm dứt huy động vàng dẫn đến tình trạng “nở rộ” dịch vụ giữ hộ vàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt xuất hiện việc huy động vàng của các công ty kinh doanh vàng. Đại diện nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng đây là hoạt động huy động hợp pháp.

Ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch Tập đoàn đá quý Doji cho biết: “NHNN không quản lý các hoạt động huy động cho mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. NHNN chỉ quản lý các hoạt động mang tính chất tín dụng gồm có huy động vàng để cho vay huy động vàng để bán vàng lấy tiền cho vay. Đấy là hoạt động tín dụng của NHTM”.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, dù việc huy động vàng của các công ty kinh doanh vàng không bị nhà nước cấm nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho khách hàng gửi vàng bởi đó chỉ là thỏa thuận dân sự, trong khi các doanh nghiệp không có chức năng như tổ chức tín dụng là huy động.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong phân tích: “Nếu người dân gửi vàng cho doanh nghiệp như dạng huy động mà lấy cho mình phần lãi suất thì chắc chắn rủi ro cao hơn là vào ngân hàng. Bởi vì khi huy động trong ngân hàng, người dân được tái bảo hiểm dù là tiền lớn, tiền nhỏ, khi có rủi ro cho ngân hàng đó thì công ty tái bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đền bù. Còn các công ty kinh doanh vàng bình thường nhận vàng và cho vay thì khi họ bị phá sản thì theo Luật phá sản. Nghĩa là, DN trang trải trải tất cả các nghĩa vụ sau đó mới trả các khoản vay nếu hết tiền thì người gửi cũng mất theo”.

Việc chấm dứt huy động vàng của các tổ chức tín dụng được thực hiện với mục tiêu dài hạn là chống “vàng hóa” nền kinh tế. Tuy nhiên, những diễn biến của thị trường như thời gian qua cho thấy nhu cầu tích trữ vàng của người dân rất lớn. Vì thế, khi chưa xóa bỏ hình thức cất trữ cũ thì đã và đang hình thành phương thức cất trữ mới.

Do vậy, với vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường, NHNN cũng đối mặt với thách thức là làm thế nào loại bỏ được yếu tố đầu cơ, trục lợi và duy trì được nguồn cung vàng ra thị trường mà không ảnh hưởng đến tỷ giá và dự trữ ngoại hối quốc gia?

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nêu rõ: “Nếu các NHTM không được phép huy động vàng sẽ mang lại rủi ro cao cho ngân hàng và khách hàng. Có lẽ nên áp dụng quy định đó với các nhà kinh doanh vàng để tránh tạo ra sự không nhất quán của các tổ chức tài chính, đạt mục tiêu chống vàng hóa. NHNN có khả năng huy động vàng nên có thể phát hành chứng chỉ vàng hay trái phiếu bảo đảm bằng vàng và trả lãi cho người dân, đồng thời NHNN cho chính phủ vay để phục vụ mục đích phát triển kinh tế”.

Trước mắt, vẫn còn nhiều thách thức trong bình ổn thị trường vàng trong dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay, NHNN cần tăng cường thanh, kiểm tra các tổ chức tín dụng cũng như xác định chính xác lực cầu của thị trường, hướng tới bình ổn thị trường vàng./.

Từ khoá: doanh nghiệp gia công ty công ty tái bảo hiểm kinh doanh huy động thách thức nền kinh tế người dân tái bảo hiểm khách hàng kinh tế tín dụng nhu cầu ngân hàng bão thị trường chuyên gia

Gói 30.000 tỷ đồng: Không phải ai cũng vay được

(ĐTCK) Việc triển khai gói tín dụng ưu đãi bất động sản 30.000 tỷ đồng hiện đang được coi là chậm và quá phức tạp, đặc biệt với phía người vay mua nhà.

Theo Phó giám đốc NHNN TP. HCM Nguyễn Hoàng Minh, lý do chính là, người vay vốn, ngoài việc phải thỏa mãn các điều kiện về hoàn cảnh, phải chứng minh được khả năng trả nợ.

>Vướng mắc triển khai gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng

Đến nay, việc giải ngân gói tín dụng hỗ trợ mua, thuê mua nhà 30.000 tỷ đồng đã được các ngân hàng triển khai tới đâu, thưa ông?

Theo quy định tại Thông tư 11/2013/TT-NHNN (Thông tư 11), các ngân hàng thương mại (NHTM) được chỉ định cho vay hỗ trợ nhà ở gồm Agribank, BIDV, Vietinbank, Vietcombank và MHB. Việc giải ngân cho vay đối với các cá nhân và doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành và quy trình tín dụng của từng NHTM. Hiện các NHTM kể trên đã có văn bản hướng dẫn cụ thể về hình thức, thủ tục, quy định, điều kiện, thẩm định hồ sơ cho vay hỗ trợ nhà ở đối với khách hàng. Người có nhu cầu vay vốn mua nhà ở theo gói tín dụng này có thể liên hệ trực tiếp với các NHTM để được hướng dẫn chi tiết về các điều kiện, thủ tục vay vốn. Việc triển khai cho vay hỗ trợ nhà ở theo gói 30.000 tỷ đồng có sự chỉ đạo từ nhiều cơ quan ban ngành. Những vướng mắc trong cơ chế cho vay của ngân hàng đã được báo cáo lên NHNN để có chỉ đạo kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn, giúp khách hàng tiếp cận nguồn vốn thuận lợi. Các vấn đề vướng mắc khác liên quan đến trách nhiệm hướng dẫn của Bộ Xây dựng mà các NHTM đã kiến nghị, NHNN chi nhánh TP. HCM cũng đã tổng hợp và đề xuất các chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể hơn của Bộ Xây dựng.

Có thông tin rằng, một số ngân hàng đã công bố tỷ trọng phân bổ nguồn tín dụng ưu đãi là 60% cho doanh nghiệp và 40% cho người tiêu dùng trong 3 năm đầu tiên. Thực hư chuyện này ra sao?

Khoản 4, Điều 2, Thông tư 11 quy định: “Tổng mức cho vay của các ngân hàng đối với doanh nghiệp chiếm tối đa 30% nguồn tái cấp vốn hỗ trợ nhà ở theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này. Như vậy, nguồn tái cấp vốn 30.000 tỷ đồng của NHNN cho các NHTM đối với dư nợ cho vay doanh nghiệp tối đa là 30% và người tiêu dùng là 70%. NHNN phối hợp với Bộ Xây dựng và các NHTM đã có giải pháp kiểm soát tổng thể, đảm bảo cho vay đối với các doanh nghiệp tối đa bằng 30% tổng nguồn vốn cho vay trong gói 30.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong từng thời điểm, tỷ lệ này có thể thay đổi, miễn sao về tổng thể, chỉ 9.000 tỷ đồng được dành cho doanh nghiệp. Bên cạnh phần tái cấp vốn của NHNN thì một số NHTM đã tự cân đối thêm nguồn vốn của ngân hàng và cam kết lãi suất cho vay hỗ trợ mua nhà ở xã hội là 6%/năm. Vì thế, tỷ lệ 60% cho doanh nghiệp và 40% cho người tiêu dùng trong phần nguồn vốn mà các NHTM triển khai là chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng, không mâu thuẫn với Thông tư 11 hay Thông tư 07.

Thời hạn cho cá nhân vay vốn là 10 năm làm cho người thu nhập thấp hàng tháng phải trả khoản tiền vay gốc và lãi cao hơn mức thu nhập của họ. Có nên tăng thời hạn này lên 15 hay 20 năm hay không, thưa ông?

10 năm là thời hạn tối đa áp dụng mức lãi suất ưu đãi 6%/năm cho các khoản vay mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại. Các NHTM, khi nhận hồ sơ vay mua nhà ở của khách hàng, sẽ căn cứ vào thu nhập thực tế, nhu cầu vay thực tế, thời hạn vay thực tế và khả năng trả nợ của khách hàng để ra quyết định giải ngân phù hợp. Nếu khách hàng có nhu cầu vay dài hơn 10 năm thì từ năm thứ 11 trở đi sẽ áp dụng mức lãi suất thỏa thuận giữa các NHTM và khách hàng vay vốn.

Người thu nhập thấp phải có tài sản bảo đảm, đây có phải là rào cản với họ khi muốn tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi?

Điều 6, Thông tư 11 quy định: “Ngân hàng xem xét và quyết định việc cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật”. Như vậy, NHNN giao quyền cho NHTM quyết định có thế chấp hay không, tùy thuộc vào tình hình tài chính và năng lực trả nợ của khách hàng vay. Theo quy định hiện hành về tài sản thế chấp, các NHTM được phép cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Căn nhà mua là một dạng tài sản sẽ hình thành từ vốn vay, khi đó, có thể thỏa thuận hợp đồng thế chấp ba bên gồm ngân hàng – khách hàng – chủ đầu tư dự án. Văn bản triển khai hướng dẫn của NHTM đều có quy định cụ thể về vấn đề này.

Có ý kiến cho rằng, người có thu nhập thấp rất khó tiếp cận gói 30.000 tỷ đồng. Còn phía ngân hàng lại lý giải có quá nhiều vướng mắc. Ông nghĩ sao về điều này?

Hiện chúng tôi cũng đang tập hợp những khó khăn, vướng mắc mà các ngân hàng phản ánh về. Theo chúng tôi được biết, phía ngân hàng triển khai chương trình này không có gì khó khăn, nhưng người muốn vay phải có xác nhận của địa phương, mất rất nhiều thời gian. Chúng tôi đã đề nghị UBND TP. HCM cũng như UBND các quận, huyện, phường, xã xác nhận cho người dân khi họ có nhu cầu vay vốn từ chương trình này. Mặt khác, để được vay vốn, cần có hợp đồng mua nhà hoặc hợp đồng thuê, mua nhà, và việc này phải thông qua một hội đồng địa phương xét duyệt. Do đó, chúng tôi cũng đang đẩy nhanh tiến độ các thủ tục này. Trước mắt, nguồn vốn sẽ được dành ưu tiên cho các cán bộ công chức, thuộc gia đình chính sách, cán bộ vũ trang, cán bộ y tế, giáo dục để có một nơi an cư, yên tâm công tác.

Ông đánh giá thể nào về tốc độ triển khai gói ưu đãi lãi suất này trong thời gian tới?

Thực tế, gói 30.000 tỷ đồng này chỉ được giải ngân thông qua 5 NHTM và chủ yếu thực hiện ở các thành phố lớn như TP. HCM, Hà Nội và Đà Nẵng. Ở những tỉnh, thành khác, theo chúng tôi, nhu cầu về nhà ở xã hội là không cao. Do đó, đối với khu vực TP. HCM, chúng tôi đã tích cực triển khai quyết liệt, đảm bảo nguồn vốn này sử dụng đúng mục đích, yêu cầu và tiến độ.

Từ khoá: quy định bất động sản nhu cầu thủ tục tài sản bão thời hạn vay vốn thông tư người thu nhập thấp ngân hàng hợp đồng thu nhập thấp mức thu nhập khách hàng xây dựng tín dụng khó khăn doanh nghiệp người tiêu dùng tiêu dùng triển khai quyết định

Ngân hàng Hợp tác xã VN bắt đầu hoạt động từ 9/7

Ngày 8/7, Ngân hàng Nhà nước tổ chức họp báo Hội nghị tổng kết thực hiện Chỉ thị 57-CT/TW của Bộ Chính trị về củng cố hoàn thiện hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân và khai trương hoạt động Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank). Cả hai sự kiện này đều diễn ra vào ngày 9/7 tại Hà Nội.

Co-op Bank được chuyển đổi từ Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng, thực hiện các nghiệp vụ như những ngân hàng thương mại khác.

Co-op Bank mở tài khoản tiền gửi cho các thành viên là Quỹ tín dụng nhân dân; nhận tiền gửi, cho vay điều hòa vốn đối với các Quỹ tín dụng nhân dân thành viên; xây dựng, phát triển và ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ mới trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân thành viên đáp ứng nhu cầu của các thành viên Quỹ tín dụng nhân dân và phục vụ phát triển lợi ích cộng đồng trên địa bàn sau khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

Ngoài ra, ngân hàng cũng nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác của các tổ chức và cá nhân; cho vay đối với khách hàng không phải là Quỹ tín dụng nhân dân thành viên…

Chủ tịch Hội đồng quản trị Coop Bank Trần Quang Khánh cũng lý giải về việc Co-op Bank được hoạt động các nghiệp vụ huy động-cho vay với các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân.

Ông Khánh cho biết, hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân có đặc tính mùa vụ rất lớn và điều này khiến đôi lúc xảy ra tình trạng quá thiếu vốn hoặc ứ vốn. “Có thời điểm hơn 1.000 quỹ tín dụng nhân dân cùng thiếu vốn. Nhưng đến khi bà con thu hoạch, họ có thu nhập thì các quỹ lại cùng rơi vào tình trạng tạm thời dư thừa vốn nhàn rỗi,” ông Khánh dẫn chứng.

Ông Khánh cũng khẳng định đây sẽ là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân, có chức năng điều hòa vốn cho toàn bộ hệ thống các quỹ tín dụng trên cả nước. “Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam sẽ là tổ chức đầu mối, chịu trách nhiệm trước Ngân hàng Nhà nước trong đảm bảo hỗ trợ và kiểm tra giám sát hoạt động đối với quỹ tín dụng nhân dân,” ông Khánh cho biết thêm.

Ngân hàng Nhà nước vừa đề nghị Quốc hội giảm 50% thuế cho Co-op Bank. Theo lý giải của Ngân hàng Nhà nước, đây là loại hình hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là tương trợ giúp đỡ thành viên và tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã.

Chủ tịch Coop Bank cho biết, hiện Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương vẫn phải nộp mức thuế suất như các ngân hàng thương mại khác.

Sau hơn 12 năm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 57, hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân đã có bước phát triển mới về chất lượng và quy mô hoạt động cũng như tiếp tục hoàn thiện về mô hình tổ chức liên kết.

Đánh giá về kết quả đạt được của Quỹ này, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng, mô hình tổ chức hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân đã được hoàn thiện một bước cơ bản, khắc phục được mối liên kết lỏng lẻo của mô hình 3 cấp, mạng lưới Quỹ Tín dụng Trung ương được mở rộng, tiếp cận gần hơn các Quỹ Tín dụng nhân dân cơ sở để tăng cường khả năng điều hòa vốn nội bộ, hỗ trợ, phục vụ thành viên./.

Tính đến 31/12/2012, Quỹ tín dụng Trung ương gồm Hội sở chính tại Hà Nội và 26 Chi nhánh, gần 70 Phòng giao dịch. Năm 2001 chỉ có 110 tỷ đồng vốn điều lệ, đến nay vốn điều lệ của Quỹ là 2.034 tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay của Qũy này là 11.132,9 tỷ đồng, tăng hơn 15 lần so với năm 2001. Lợi nhuận trước thuế là 190,5 tỷ đồng.

Đối với Quỹ tín dụng nhân dân, tính đến 31/12/2012 có 1.132 Quỹ cơ sở, chỉ tăng 18% so với năm 2000 (là thời điểm bắt đầu triển khai Chỉ thị 57) nhưng tổng nguồn vốn hoạt động vẫn tăng trưởng mạnh mẽ liên tục qua các năm và hiện đạt 44.776 tỷ đồng, tăng gần 17 lần so với năm 2000; trong đó vốn điều lệ là 1.728 tỷ đồng, tăng 10 lần so với năm 2000; vốn huy động là 35.499 tỷ đồng, tăng 20,7 lần so với năm 2000; vốn đi vay là 4.522 tỷ đồng, tăng 8,5 lần so với năm 2000.

Minh Thúy (Vietnam+)

Từ khoá: hội đồng quản trị tín dụng mô hình tổ chức vốn điều lệ ngân hàng hợp tác phát triển nhà nước tăng trưởng mạnh mẽ