20 giờ tối nay, xăng giảm giá tối thiểu 300 đồng/lít

(TNO) Kể từ 20 giờ ngày 22.8, Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp phải giảm tối thiểu 300 đồng/lít xăng và 257 đồng/kg đối với mazút.

Riêng mặt hàng dầu hỏa và diesel, Bộ vẫn cho các doanh nghiệp giữ nguyên giá bán.

Cụ thể, đối với giá xăng, theo Bộ Tài chính, tại thời điểm điều hành ngày 17.7.2013, nếu tính đầy đủ các yếu tố cấu thành giá cơ sở theo quy định tại Nghị định 84/2009/NĐ-CP thì phải điều chỉnh tăng giá tối đa 988 đồng/lít. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu bình ổn giá, liên Bộ đã yêu cầu các doanh nghiệp chỉ tính 100 đồng/lít lợi nhuận định mức thay vì mức 300 đồng/lít theo quy định và sử dụng Quỹ Bình ổn giá 300 đồng/lít; do vậy mức điều chỉnh tăng giá tối đa đối với mặt hàng này chỉ ở mức 468 đồng/lít (thực tế điều chỉnh giá của doanh nghiệp ở mức 460 đồng/lít).

Trao đổi với Thanh Niên Online Ông Đặng Vinh Sang, Tổng giám đốc SaiGonPetro, cho biết thực hiện theo quyết định của Bộ Tài chính, công ty giảm giá tối thiểu 300 đồng/lít xăng.

Anh Vũ

>> Cần rút ngắn thời gian giảm giá xăng dầu

>> Không giảm giá xăng dầu

>> Pháp giảm giá xăng, dầu diezel

>> Giảm giá xăng 600 đồng/lít, tăng thuế nhập khẩu

>> Vì sao chưa giảm giá xăng?

>> Chưa giảm giá xăng

Từ khoá: bộ tài chính tổng giám đốc tài chính doanh nghiệp gia giảm giá

Hướng dẫn hỗ trợ lãi suất vay mua tạm trữ thóc gạo

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 109/2013/TT-BTC hướng dẫn về việc hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản này là các thương nhân thực hiện mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013 được Hiệp hội Lương thực Việt Nam phân giao theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 850/QĐ-TTg.

Thông tư có hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc xem xét hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; hồ sơ, thủ tục hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; trách nhiệm của tổ chức, cơ quan Nhà nước có liên quan đến việc hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; tổ chức kiểm tra việc hỗ trợ lãi suất vay mua tạm trữ.

Theo quy định, việc hỗ trợ lãi suất tiền vay mua thóc, gạo tạm trữ chỉ thực hiện đối với các khoản vay từ ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ định theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 850/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các khoản vay được hỗ trợ lãi suất là các khoản vay trả nợ trước và trong hạn tại thời điểm hỗ trợ lãi suất, không thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay quá hạn.

Số lượng thóc, gạo được hỗ trợ lãi suất cho từng thương nhân theo số lượng thóc, gạo thực tế thương nhân mua tạm trữ nhưng không được vượt quá số lượng quy định tại các văn bản phân giao chỉ tiêu mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013 của Hiệp hội Lương thực Việt Nam và đảm bảo tổng số thóc, gạo mua tạm trữ không được vượt quá một triệu tấn quy gạo theo quy định. Loại thóc, gạo mua tạm trữ gồm thóc, gạo thường và thóc, gạo thơm. Thời hạn mua tạm trữ từ ngày 15/6 vừa qua đến hết ngày 15/8.

Thời gian được hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng là thời gian tạm trữ thực tế tính từ thời điểm mua thóc, gạo theo quy định tại khoản 6 Điều này đến thời điểm bán thóc, gạo tạm trữ nhưng không quá thời hạn ngày 15/9 tới. Giá để tính hỗ trợ lãi suất là giá mua thực tế theo giá thị trường (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) cho từng loại thóc, gạo. Căn cứ để xác định giá mua thực tế theo giá thị trường là hợp đồng mua bán, thanh lý hợp đồng, phiếu nhập kho hàng hóa, hóa đơn mua hàng, chứng từ chuyển tiền hoặc các chứng từ có liên quan khác do thương nhân xuất trình.

Lãi suất hỗ trợ là lãi suất các thương nhân vay ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng nhưng tối đa không vượt quá 10%/năm theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại công văn số 4142/NHNN-TD ngày 12/6/2013. Khoản hỗ trợ lãi tiền vay ngân hàng từ ngân sách nhà nước đối với số thóc, gạo thu mua tạm trữ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được hạch toán vào khoản thu nhập khác trong kỳ của thương nhân và chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định, trong thời gian 15 ngày làm việc, Bộ Tài chính thẩm định hồ sơ và làm thủ tục hỗ trợ lãi suất cho thương nhân. Trường hợp thương nhân chưa cung cấp đầy đủ hồ sơ hoặc không đủ điều kiện được hỗ trợ lãi suất thì Bộ Tài chính sẽ có văn bản yêu cầu thương nhân bổ sung hồ sơ theo quy định hoặc thông báo cho thương nhân biết lý do không được xem xét hỗ trợ lãi suất.

Tại văn bản đề nghị bổ sung hồ sơ, Bộ Tài chính phải quy định cụ thể thời gian để thương nhân hoàn chỉnh hồ sơ. Tổng Công ty Lương thực miền Bắc và Tổng Công ty Lương thực miền Nam hướng dẫn các đơn vị thành viên lập hồ sơ hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng và tổng hợp chung theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư này gửi Bộ Tài chính. Tổng công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu đã tổng hợp.

Sau khi nhận được kinh phí hỗ trợ do Bộ Tài chính cấp về tài khoản Tổng công ty, trong thời gian 5 ngày làm việc Tổng công ty thực hiện cấp lại cho các đơn vị thành viên. Đối với các thương nhân khác: Bộ Tài chính tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ hỗ trợ lãi suất sau khi kết thúc thời gian tạm trữ và cấp phát hỗ trợ kinh phí thông qua tài khoản của thương nhân.

Kết thúc thời gian tạm trữ, Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra việc lập hồ sơ hỗ trợ lãi suất để mua thóc, gạo tạm trữ của thương nhân. Việc kiểm tra phải thông báo cho thương nhân bằng văn bản trước khi kiểm tra. Kết thúc kiểm tra phải lập Biên bản kiểm tra trong đó nêu rõ tình hình thực hiện, tồn tại vướng mắc và kiến nghị giải pháp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/8./.

(TTXVN)

Từ khoá: tài chính ngân hàng kiểm tra nhà nước vượt qua gia quy định công ty bộ tài chính thông tư thuế thu nhập doanh nghiệp hợp đồng

Nơi đào tạo uy tín, chất lượng cao

(HNM) – Với mô hình đào tạo tiên tiến gắn liền với thực tiễn, trong suốt những năm qua, Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai đã đào tạo các kỹ sư, cử nhân kinh tế đủ tài, đủ lực và có tâm sáng. Nguồn nhân lực đó đã đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của đất nước, đặc biệt cho địa bàn tỉnh Đồng Nai, tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa đứng đầu cả nước với hơn 30 khu công nghiệp.

Đào tạo đa ngành, đa nghề

Trong năm học 2013-2014, Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai (đường Bùi Trọng Nghĩa, KP, 5, phường Trảng Dài, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) tuyển sinh bậc đại học các ngành: công nghệ thực phẩm; công nghệ điện – điện tử; tài chính – ngân hàng; tài chính – doanh nghiệp; kế toán – kiểm toán; quản trị nhà hàng – khách sạn; quản trị du lịch và lữ hành; công nghệ thông tin; công nghệ kỹ thuật ô tô; công nghệ môi trường, với quy mô khoảng 8.500 sinh viên.

Trường ngày đầu thành lập
Trường ngày đầu thành lập

Không chỉ vậy, trường cũng đào tạo nhiều bậc học cao đẳng, trung cấp với hàng loạt ngành nghề như: điều dưỡng; kế toán – kiểm toán; công nghệ thông tin; quản trị kinh doanh; công nghệ kỹ thuật điện – điện tử; công nghệ nhiệt lạnh; công nghệ cơ điện tử; công nghệ kỹ thuật ô tô; công nghệ xây dựng; công nghệ thực phẩm; công nghệ môi trường; hướng dẫn viên du lịch; quản trị văn phòng; tài chính – ngân hàng; quản trị nhà hàng – khách sạn; tiếng Anh; quản trị du lịch. Sinh viên sau khi tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng được liên thông lên đại học.

Trong kỳ thi tuyển sinh vừa qua, Trường ĐH Công nghệ Đồng Nai lấy điểm trúng tuyển bằng với điểm sàn của Bộ GD-ĐT. Ngoài việc thí sinh được cộng điểm ưu tiên khu vực và ưu tiên đối tượng khi xét tuyển, nhà trường còn xét tuyển NV2, 3 tất cả các ngành cho hệ ĐH-CĐ. Đặc biệt, trường có trung tâm giới thiệu việc làm cho sinh viên, 100% sinh viên sau khi ra trường đều được giới thiệu việc làm. Hằng năm, nhà trường có xét cấp học bổng cho sinh viên khá, giỏi và những sinh viên nghèo vượt khó.

Những thành quả đạt được

Điển hình cho thành quả của nhà trường chính là mô hình đào tạo đổi mới theo hướng tích hợp với thực tế. Nhà trường đã mời các chuyên gia là các Tổng giám đốc, CEO tại các công ty trên địa bàn tỉnh về giảng dạy phần thực hành. Nhờ vậy mà sinh viên không chỉ nắm chắc các kiến thức trên giảng đường mà còn vững vàng về thực tế trước khi ra trường. Trường còn đào tạo các kỹ năng mềm thông qua việc bổ sung ngay các môn học kỹ năng mềm vào chương trình đào tạo chính khóa, các lớp ngắn hạn giúp sinh viên vững kỹ năng, giỏi chuyên môn, bắt nhịp được ngay với công việc khi đi làm. Trường chú trọng đào tạo theo địa chỉ của doanh nghiệp, nhờ vậy sinh viên định hướng được công việc sẽ làm sau khi ra trường, từ đó có thái độ học tập tích cực và chủ động hơn. Hiện trường có sinh viên của 48 tỉnh, thành đang theo học.

Không chỉ vậy, nhằm tạo ra môi trường học tập hiệu quả, nhà trường đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị riêng theo mô hình đào tạo từng chuyên khoa. Trong khu nhà 5 tầng có tổng diện tích 7.500m2, nhà trường đã trang bị đầy đủ xưởng thực hành, phòng thực tập, phòng mô phỏng, phòng thực hành. Chưa hết, trong khuôn viên rộng rãi, ký túc xá 5 tầng sức chứa hơn 800 chỗ ở của trường có đầy đủ tiện nghi, thoáng mát. Ở đây còn có nhà ăn phục vụ ba bữa với thực phẩm sạch. Trường còn có Trung tâm Thông tin – Thư viện hiện đại với hệ thống phòng đọc, phòng làm việc nhóm, phòng truyền thông đa phương tiện, phòng đọc sách thiếu nhi… Thư viện có hơn 100.000 đầu sách chuyên ngành, sách tham khảo, đặc biệt là kho tư liệu vô giá với hơn 25.000 đầu sách tiếng Anh. Hơn thế nữa, hệ thống thư viện điện tử của trường không chỉ phục vụ cho sinh viên trường và cho cả các sinh viên các trường khác trong khu vực về học tập, nghiên cứu.

Với tất cả những giải pháp, lợi thế trên, thực tế những năm qua tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm đúng ngành nghề luôn đạt trên 95%. Đây là phần thưởng cho nỗ lực trong việc dạy và học, đồng thời cũng là kim chỉ nam trong định hướng phát triển của nhà trường. Với hướng đi và kết quả như vậy, tin tưởng rằng, Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai với môi trường học tập xanh – sạch – chất lượng đào tạo vượt trội, sẽ vươn xa hơn nữa và ngày càng khẳng định được vị thế của mình.

Từ khoá: đào tạo công nghệ việc làm công nghệ thông tin môi trường tài chính trang thiết bị kỹ thuật du lịch đồng nai kỹ năng thông tin tổng giám đốc sinh viên

Nhiều trường công bố điểm chuẩn

> Điểm chuẩn ĐH Kinh tế Quốc dân cao nhất là 25

> Điểm chuẩn của 3 trường đại học, học viện

TPO- Chiều nay (8/8), các trường thành viên ĐH Huế, ĐH Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM, ĐH Sài gòn, ĐH Luật TPHCM, ĐH Công nghệ Đồng Nai công bố điểm chuẩn và chỉ tiêu nguyện vọng bổ sung.

1. Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM

Hội đồng tuyển sinh Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM (HUTECH) chính thức công bố điểm chuẩn trúng tuyển nguyện vọng 1 (NV1) và công bố xét tuyển nguyện vọng bổ sung (NVBS) tất cả các ngành đào tạo trình độ ĐH-CĐ năm 2013.

Điểm chuẩn trúng tuyển nguyện vọng 1

Khối thi Trình độ Đại học Trình độ Cao đẳng
A 13 10
A1 13 10
B 14 11
D1 13,5 10
V 13 10
H 13 10

HUTECH công bố xét tuyển nguyện vọng bổ sung đợt 1 đối với thí sinh có điểm thi Đại học – Cao đẳng 2013 từ điểm sàn trở lên theo quy định của Bộ GDĐT:

Trình độ Đại học (Chỉ tiêu nguyện vọng bổ sung: 2.500 chỉ tiêu)

Stt Ngành đào tạo Mã ngành Khối Điểm xét tuyển
1 KT điện tử, truyền thông D520207 A;A1 13;13
2 KT điện, điện tử (Điện công nghiệp) D520201 A;A1 13;13
3 Công nghệ thông tin:

Hệ thống thông tin

Công nghệ phần mềm

Mạng máy tính

KT máy tính và hệ thống nhúng

D480201 A;A1;D1 13;13;13,5
4 KT công trình xây dựng D580201 A;A1 13;13
5 KT xây dựng công trình giao thông D580205 A;A1 13;13
6 KT cơ-điện tử D520114 A;A1 13;13
7 KT cơ khí (chuyên ngành Cơ khí tự động) D520103 A;A1 13;13
8 KT môi trường D520320 A;B 13;14
9 Công nghệ thực phẩm D540101 A;B 13;14
10 Công nghệ sinh học D420201 A;B 13;14
11 KT điều khiển và tự động hóa D520216 A;A1 13;13
12 Thiết kế nội thất D210405 V;H 13;13
13 Thiết kế thời trang D210404 V;H 13;13
14 Quản trị kinh doanh:

QT ngoại thương

QT doanh nghiệp

QT marketing

QT tài chính ngân hàng

D340101 A;A1;D1 13;13;13,5
15 QT dịch vụ du lịch và lữ hành D340103 A;A1;D1 13;13;13,5
16 QT khách sạn D340107 A;A1;D1 13;13;13,5
17 QT nhà hàng và dịch vụ ăn uống D340109 A;A1;D1 13;13;13,5
18 Kế toán:

Kế toán kiểm toán

Kế toán tài chính

Kế toán ngân hàng

D340301 A;A1;D1 13;13;13,5
19 Tài chính-Ngân hàng

Tài chính doanh nghiệp

Tài chính ngân hàng

Tài chính thuế

D340201 A;A1;D1 13;13;13,5
20 Ngôn ngữ Anh:

Tiếng Anh thương mại-du lịch

Tiếng Anh tổng quát-dịch thuật

Tiếng Anh Quan hệ quốc tế

D220201 D1 13,5
21 Kiến trúc D580102 V 13
22 Kinh tế xây dựng D580301 A;A1;D1 13;13;13,5

Trình độ Cao đẳng (Chỉ tiêu nguyện vọng bổ sung: 1.400 chỉ tiêu)

Ngành đào tạo Mã ngành Khối Điểm xét tuyển
1 Công nghệ thông tin C480201 A;A1;D1 10;10;10
2 Công nghệ KT điện tử, truyền thông C510302 A;A1 10;10
3 Quản trị kinh doanh C340101 A;A1;D1 10;10;10
4 Công nghệ thực phẩm C540102 A;B 10;11
5 Công nghệ KT công trình xây dựng C510103 A;A1 10;10
6 Kế toán C340301 A;A1;D1 10;10;10
7 Công nghệ KT môi trường C510406 A;B 10;11
8 Công nghệ sinh học C420201 A;B 10;11
9 Tiếng Anh C220201 D1 10
10 Thiết kế thời trang C210404 V;H 10;10
11 Thiết kế nội thất C210405 V;H 10;10
12 QT dịch vụ du lịch và lữ hành C340103 A;A1;D1 10;10;10
13 QT khách sạn C340107 A;A1;D1 10;10;10
14 QT nhà hàng và dịch vụ ăn uống C340109 A;A1;D1 10;10;10
15 Tài chính-Ngân hàng C340201 A;A1;D1 10;10;10
16 Công nghệ KT cơ khí C510201 A;A1 10;10
17 Công nghệ KT cơ-điện tử C510203 A;A1 10;10
18 Công nghệ KT điện, điện tử C510301 A;A1 10;10
19 Công nghệ KT điều khiển và tự động hoá C510303 A;A1 10;10

Thời gian nhận hồ sơ xét tuyển NV bổ sung đợt 1: từ 20/8/2013 đến 09/9/2013. Công bố kết quả xét tuyển NV bổ sung đợt 1: 10/9/2013.

2.ĐH Công nghệ Đồng Nai

Trường lấy điểm chuẩn các ngành bằng điểm sàn của Bộ và dành nhiều chỉ tiêu xét tuyển NV2.

Bậc Đại học: Xét tuyển bằng điểm sàn của Bộ GD&ĐT

STT Ngành đào tạo Mã ngành Khối thi
1 Công nghệ Kỹ thuật Điện – Điện tử:

– Công nghệ Kỹ thuật Điện

– Công nghệ Kỹ thuật Điện tử

D510301 A, A1, D1
2 Công nghệ Thông tin D480202 A, A1, D1
3 Công nghệ Kỹ thuật Ô tô D510205 A, A1, D1
4 Công nghệ Thực phẩm:

– Công nghệ chế biến thực phẩm

– Công nghệ sinh học thực phẩm

D540101 A,A1, B
5 Công nghệ Môi trường:

– Công nghệ kỹ thuật môi trường

– Quản lý tài nguyên và môi trường

D510406 A,A1, B
6 Kế toán – Kiểm toán D340301 A, A1, D1
7 Tài chính:

– Tài chính Ngân hàng

– Tài chính Doanh nghiệp

D340201 A,A1,D1
8 Quản trị Du lịch và Lữ hành:

– Quản trị Nhà hàng – Khách sạn

– Quản trị Du lịch – Lữ hành

D340103 A,A1,D1

2. Bậc Cao Đẳng Chính Quy: Xét tuyển bằng điểm sàn của Bộ GD&ĐT

STT Ngành đào tạo Mã ngành Khối
1 Điều dưỡng C720501 A,A1,B
2 Công nghệ Kỹ thuật Điện C510301 A,A1,D1
3 Công nghệ Kỹ thuật Điện tử A,A1,D1
4 Công nghệ Nhiệt lạnh C510206 A,A1,D1
5 Công nghệ Cơ điện tử C510203 A,A1,D1
6 Công nghệ Xây dựng C510103 A,A1,D1
7 Công nghệ Ô tô C510205 A,A1,D1
8 Công nghệ Thực phẩm C540102 A,A1,B
9 Công nghệ Môi trường C510406 A,A1,B
10 Tin học ứng dụng C480202 A, A1, D1
11 Kế toán C340301 A, A1, D1
12 Tài chính Ngân hàng C340201 A, A1, D1
13 Quản trị Kinh doanh C340101 A, A1, D1
14 Quản trị Văn phòng C340406 A,A1,C,D1
15 Quản trị Nhà hàng – Khách sạn C220103 A1,C,D1
16 Quản trị Du lịch và Lữ hành C220113 A1,C,D1
17 Hướng dẫn viên Du lịch C220103 A1,C,D1
18 Tiếng Anh C220201 D1

3.ĐH Kinh tế TP.HCM

Điểm chuẩn tất cả các ngành của trường là 20 điểm đối với cả khối A và A1, áp dụng với học sinh phổ thông, khu vực 3.

4. ĐH Huế

ĐH Huế công bố điểm trúng tuyển vào các trường thành viên như sau:

Khối Mã ngành Tên ngành Điểm chuẩn
1. DHA – KHOA LUẬT A D380101 Luật 17.5
C D380101 Luật 20
D1 D380101 Luật 17
D2 D380101 Luật 17
D3 D380101 Luật 17
D4 D380101 Luật 17
A D380107 Luật kinh tế 17.5
C D380107 Luật kinh tế 19.5
D1 D380107 Luật kinh tế 17
D2 D380107 Luật kinh tế 17
D3 D380107 Luật kinh tế 17
D4 D380107 Luật kinh tế 17
2. DHC – KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT T D140206 Giáo dục Thể chất 20.5
T D140208 Giáo dục Quốc phòng – An ninh 19.5
3. DHD – KHOA DU LỊCH A D310101 Kinh tế 13
A1 D310101 Kinh tế 13
D1 D310101 Kinh tế 13.5
D2 D310101 Kinh tế 13.5
D3 D310101 Kinh tế 13.5
D4 D310101 Kinh tế 13.5
A D340101 Quản trị kinh doanh 14
A1 D340101 Quản trị kinh doanh 14
D1 D340101 Quản trị kinh doanh 14
D2 D340101 Quản trị kinh doanh 14
D3 D340101 Quản trị kinh doanh 14
D4 D340101 Quản trị kinh doanh 14
A1 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 16.5
A D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 16.5
C D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 18.5
D1 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 17.5
D2 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 17.5
D3 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 17.5
D4 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Huế 17.5
A D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 15.5
A1 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 15.5
C D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 17.5
D1 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 16.5
D2 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 16.5
D3 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 16.5
D4 D340103 Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – Học tại Quảng trị 16.5
4. DHF – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ D1 D140231 Sư phạm tiếng Anh 21
D1 D140233 Sư phạm tiếng Pháp 13.5
D3 D140233 Sư phạm tiếng Pháp 13.5
D1 D140234 Sư phạm tiếng Trung Quốc 13.5
D2 D140234 Sư phạm tiếng Trung Quốc 13.5
D3 D140234 Sư phạm tiếng Trung Quốc 13.5
D4 D140234 Sư phạm tiếng Trung Quốc 13.5
D1 D220113 Việt Nam học 13.5
D2 D220113 Việt Nam học 13.5
D3 D220113 Việt Nam học 13.5
D4 D220113 Việt Nam học 13.5
D1 D220201 Ngôn ngữ Anh 19.5
D1 D220202 Ngôn ngữ Nga 13.5
D2 D220202 Ngôn ngữ Nga 13.5
D3 D220202 Ngôn ngữ Nga 13.5
D4 D220202 Ngôn ngữ Nga 13.5
D1 D220203 Ngôn ngữ Pháp 13.5
D3 D220203 Ngôn ngữ Pháp 13.5
D1 D220204 Ngôn ngữ Trung Quốc 13.5
D2 D220204 Ngôn ngữ Trung Quốc 13.5
D3 D220204 Ngôn ngữ Trung Quốc 13.5
D4 D220204 Ngôn ngữ Trung Quốc 13.5
D1 D220209 Ngôn ngữ Nhật 20.5
D2 D220209 Ngôn ngữ Nhật 20.5
D3 D220209 Ngôn ngữ Nhật 20.5
D4 D220209 Ngôn ngữ Nhật 20.5
D6 D220209 Ngôn ngữ Nhật 20.5
D1 D220210 Ngôn ngữ Hàn Quốc 14.5
D2 D220210 Ngôn ngữ Hàn Quốc 14.5
D3 D220210 Ngôn ngữ Hàn Quốc 14.5
D4 D220210 Ngôn ngữ Hàn Quốc 14.5
D1 D220212 Quốc tế học 13.5
5. DHK – TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ A D310101 Kinh tế 14
A1 D310101 Kinh tế 14
D1 D310101 Kinh tế 14
D2 D310101 Kinh tế 14
D3 D310101 Kinh tế 14
D4 D310101 Kinh tế 14
A D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
A1 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
D1 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
D2 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
D3 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
D4 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Huế 15.5
A D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
A1 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
D1 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
D2 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
D3 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
D4 D340101 Quản trị kinh doanh – Học tại Quảng Trị 14.5
A D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
A1 D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
D1 D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
D2 D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
D3 D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
D4 D340201 Tài chính – Ngân hàng 16
A D340301 Kế toán 16
A1 D340301 Kế toán 16
D1 D340301 Kế toán 16
D2 D340301 Kế toán 16
D3 D340301 Kế toán 16
D4 D340301 Kế toán 16
A D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13
A1 D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13
D1 D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13.5
D2 D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13.5
D3 D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13.5
D4 D340405 Hệ thống thông tin quản lí 13.5
6. DHL – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM A C510210 Công thôn 0
A1 C510210 Công thôn 0
A C620105 Chăn nuôi 0
B C620105 Chăn nuôi 0
A C620110 Khoa học cây trồng 0
B C620110 Khoa học cây trồng 0
A C620301 Nuôi trồng thuỷ sản 0
B C620301 Nuôi trồng thuỷ sản 0
A C850103 Quản lí đất đai 0
B C850103 Quản lí đất đai 0
A D440306 Khoa học đất 13.5
B D440306 Khoa học đất 16
A D510201 Công nghệ kĩ thuật cơ khí 13
A1 D510201 Công nghệ kĩ thuật cơ khí 13
A D510210 Công thôn 13
A1 D510210 Công thôn 13
A D540101 Công nghệ thực phẩm 16
B D540101 Công nghệ thực phẩm 17
A D540104 Công nghệ sau thu hoạch 16
B D540104 Công nghệ sau thu hoạch 17
A D540301 Công nghệ chế biến lâm sản 13
A1 D540301 Công nghệ chế biến lâm sản 13
B D540301 Công nghệ chế biến lâm sản 14
A D620102 Khuyến nông 13
B D620102 Khuyến nông 14
A D620105 Chăn nuôi 13
B D620105 Chăn nuôi 15.5
A D620109 Nông học 13
B D620109 Nông học 14
A D620110 Khoa học cây trồng 13
B D620110 Khoa học cây trồng 14
A D620112 Bảo vệ thực vật 13
B D620112 Bảo vệ thực vật 14
A D620113 Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan 13
B D620113 Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan 14
A D620116 Phát triển nông thôn 13
C D620116 Phát triển nông thôn 14
D1 D620116 Phát triển nông thôn 13.5
D2 D620116 Phát triển nông thôn 13.5
D3 D620116 Phát triển nông thôn 13.5
D4 D620116 Phát triển nông thôn 13.5
A D620201 Lâm nghiệp 13
B D620201 Lâm nghiệp 14
A D620211 Quản lí tài nguyên rừng 13
B D620211 Quản lí tài nguyên rừng 14
A D620301 Nuôi trồng thuỷ sản 13
B D620301 Nuôi trồng thuỷ sản 14
A D620305 Quản lý nguồn lợi thủy sản 13
B D620305 Quản lý nguồn lợi thủy sản 14
A D640101 Thú y 13
B D640101 Thú y 15.5
A D850103 Quản lí đất đai 13.5
B D850103 Quản lí đất đai 16
7. DHN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHỆ THUẬT H1 D140222 Sư phạm Mĩ thuật 25
H1 D210103 Hội họa 22
H1 D210104 Đồ họa 24.5
H2 D210105 Điêu khắc 31.5
H1 D210403 Thiết kế đồ họa 31.5
H1 D210404 Thiết kế thời trang 30
H1 D210405 Thiết kế nội thất – Học tại Huế 33
H1 D210405 Thiết kế nội thất – Học tại Quảng trị 25
8. DHQ – PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC HUẾ TẠI QUẢNG TRỊ A C510406 Công nghệ kĩ thuật môi trường 0
B C510406 Công nghệ kĩ thuật môi trường 0
A D510406 Công nghệ kĩ thuật môi trường 13
B D510406 Công nghệ kĩ thuật môi trường 14
A D520201 Kĩ thuật điện 13
A1 D520201 Kĩ thuật điện 13
A D580201 Kĩ thuật công trình xây dựng 13
A1 D580201 Kĩ thuật công trình xây dựng 13
9. DHS – TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM M D140201 Giáo dục mầm non 15.5
C D140202 Giáo dục Tiểu học 18.5
D1 D140202 Giáo dục Tiểu học 17
C D140205 Giáo dục chính trị 14
A D140209 Sư phạm Toán học 21
A1 D140209 Sư phạm Toán học 21
A D140210 Sư phạm Tin học 13
A1 D140210 Sư phạm Tin học 13
A D140211 Sư phạm Vật lí 17.5
A1 D140211 Sư phạm Vật lí 17.5
A D140212 Sư phạm Hóa học 20
B D140212 Sư phạm Hóa học 21.5
B D140213 Sư phạm Sinh học 15.5
A D140214 Sư phạm Kĩ thuật công nghiệp 13
C D140217 Sư phạm Ngữ văn 16
C D140218 Sư phạm Lịch sử 14
B D140219 Sư phạm Địa lí 14
C D140219 Sư phạm Địa lí 14
C D310403 Tâm lý học giáo dục 14
D1 D310403 Tâm lý học giáo dục 13.5
10. DHT – TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC C D220104 Hán – Nôm 14
D1 D220104 Hán – Nôm 13.5
C D220213 Đông phương học 14
D1 D220213 Đông phương học 13.5
A D220301 Triết học 13
C D220301 Triết học 14
D1 D220301 Triết học 13.5
C D220310 Lịch sử 14
D1 D220310 Lịch sử 13.5
C D220320 Ngôn ngữ học 14
D1 D220320 Ngôn ngữ học 13.5
C D220330 Văn học 14
D1 D220330 Văn học 13.5
C D310301 Xã hội học 14
D1 D310301 Xã hội học 13.5
C D320101 Báo chí 15
D1 D320101 Báo chí 15
A D420101 Sinh học 13
B D420101 Sinh học 14
A D420201 Công nghệ sinh học 17.5
B D420201 Công nghệ sinh học 19
A D440102 Vật lí học 13
A D440112 Hoá học 15
B D440112 Hoá học 16
A D440201 Địa chất học 13
A D440217 Địa lý tự nhiên 13
B D440217 Địa lý tự nhiên 14
A D440301 Khoa học môi trường 16
B D440301 Khoa học môi trường 17.5
A D460101 Toán học 13
A D460112 Toán ứng dụng 13
A D480201 Công nghệ thông tin 15
A1 D480201 Công nghệ thông tin 15
A D510302 Công nghệ kĩ thuật điện tử, truyền thông 14.5
A D520501 Kĩ thuật địa chất 13
A D520503 Kĩ thuật trắc địa – Bản đồ 13
V D580102 Kiến trúc 20.5
C D760101 Công tác xã hội 14
D1 D760101 Công tác xã hội 13.5
11. DHY – TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC B D720101 Y đa khoa 26
B D720163 Y học dự phòng 21
B D720201 Y học cổ truyền 22
B D720301 Y tế công cộng 20
B D720330 Kĩ thuật y học 22.5
A D720401 Dược học 25.5
B D720501 Điều dưỡng 21
B D720601 Răng – Hàm – Mặt 25

5.ĐH Sài gòn

ĐH Sài gòn vừa công bố điểm chuẩn vào trường. Các điểm dưới đây dành cho HSPT, KV3 (các ngành Thanh nhạc, SP Âm nhạc, SP Mĩ thuật – điểm năng khiếu đã được nhân hệ số 2). Các khu vực ưu tiên kế tiếp giảm 0,5 điểm; các nhóm ưu tiên kế tiếp giảm 1,0 điểm.

Điểm trúng tuyển đại học

Stt Ngành Khối Điểm

chuẩn

1 Thanh nhạc D210205 N 34,0
2 Việt Nam học (VH-DL) D220113 A1 17,0
C 18,0
D1 17,0
3 Ngôn ngữ Anh (TM-DL) D220201 D1 20,0
4 Khoa học thư viện D320202 A 14,0
A1 14,0
B 14,5
C 14,5
D1 14,5
5 Quản trị kinh doanh D340101 A 18,5
A1 18,5
D1 18,5
6 Tài chính Ngân hàng D340201 A 17,5
A1 17,5
D1 17,5
7 Kế toán D340301 A 18,5
A1 18,5
D1 18,5
8 Luật D380101 A 20,0
A1 20,0
C 22,0
D1 20,0
9 Khoa học môi trường D440301 A 17,5
A1 17,5
B 19,0
10 Toán ứng dụng D460112 A 16,0
A1 16,0
D1 17,0
11 Công nghệ thông tin D480201 A 18,5
A1 18,5
D1 18,5
12 Công nghệ kĩ thuật điện, điện tử D510301 A 16,0
A1 16,0
D1 16,0
13 Công nghệ kĩ thuật điện tử, truyền thông D510302 A 16,0
A1 16,0
D1 16,0
14 Kĩ thuật điện, điện tử D520201 A 16,5
A1 16,5
D1 16,5
15 Kĩ thuật điện tử, truyền thông D520207 A 16,5
A1 16,5
D1 16,5
16 Quản lí giáo dục D140114 A 15,5
A1 17,0
B 17,5
C 17,5
D1 17,5
17 Giáo dục Mầm non D140201 M 18,5
18 Giáo dục Tiểu học D140202 A 19,5
A1 19,5
D1 20,0
19 Giáo dục chính trị D140205 A 14,0
A1 14,0
C 15,0
D1 14,0
20 Sư phạm Toán học D140209 A 22,0
A1 22,0
21 Sư phạm Vật lí D140211 A 19,0
A1 19,0
22 Sư phạm Hóa học D140212 A 21,0
23 Sư phạm Sinh học D140213 B 18,0
24 Sư phạm Ngữ văn D140217 C 18,0
D1 18,0
25 Sư phạm Lịch sử D140218 C 16,0
26 Sư phạm Địa lí D140219 A 15,0
A1 15,0
C 16,0
27 Sư phạm Âm nhạc D140221 N 35,0
28 Sư phạm Mĩ thuật D140222 H 28,0
29 Sư phạm Tiếng Anh D140231 D1 20,0

Thí sinh dự thi ngành Giáo dục Mầm non (D140201) không trúng tuyển, có tổng điểm từ 17,0 trở lên, được chuyển sang học hệ cao đẳng chính quy ngành Giáo dục Mầm non (C140201); từ 13,5 trở lên được đăng kí xét tuyển vào đại học, cao đẳng hệ vừa làm vừa học ngành Giáo dục Mầm non (đăng kí theo mẫu tại Phòng Đào tạo Trường ĐHSG, kèm theo bản photo Phiếu báo điểm thi tuyển sinh đại học 2013).

Thí sinh dự thi khối A, A1, D1 không trúng tuyển, có tổng điểm từ 14 trở lên được đăng kí xét tuyển vào đại học, cao đẳng hệ vừa làm vừa học ngành Giáo dục Tiểu học (đăng kí theo mẫu tại Phòng Đào tạo Trường ĐHSG, kèm theo bản photo Giấy chứng nhận kết quả thi tuyển sinh đại học 2013).

Thí sinh dự thi ngành Sư phạm Âm nhạc (D140221) không trúng tuyển, có tổng điểm từ 29,0 trở lên, được chuyển sang học hệ cao đẳng ngành Sư phạm Âm nhạc (C140221).

Thí sinh dự thi ngành Sư phạm Mĩ thuật (D140222) không trúng tuyển, có tổng điểm từ 20,0 trở lên, được chuyển sang học hệ cao đẳng ngành Sư phạm Mĩ thuật (C140222).

Điểm trúng tuyển cao đẳng

Stt Ngành Khối Điểm chuẩn
1 CĐ Giáo dục Mầm non C140201 M 17,0
2 CĐ Sư phạm Âm nhạc C140221 N 29,0
3 CĐ Sư phạm Mĩ thuật C140222 H 20,0
Cộng

Điểm trúng tuyển hệ cao đẳng của các ngành khác sẽ được công bố vào ngày 12/09/2013.

Xét tuyển nguyện vọng 2 đại học và xét tuyển cao đẳng

Xét tuyển nguyện vọng 2 đại học (chỉ tiêu: 335)

Stt Ngành Khối Điểm nhận hồ sơ

xét tuyển NV2

Chỉ tiêu xét tuyển NV2
1 Khoa học thư viện A 14,0 15
A1
B 14,5
C
D1
2 Tài chính Ngân hàng A 17,5 120
A1
D1
2 Quản trị văn phòng A1 16,0 60
C
D1
3 Toán ứng dụng A 16,0 25
A1
D1 17,0
4 Công nghệ kĩ thuật môi trường A 16,0 60
A1
B 17,5
5 Giáo dục chính trị A 14,0 15
A1
C 15,0
D1 14,0
6 Sư phạm Sinh học B 18,0 10
7 Sư phạm Lịch sử C 16,0 15
8 Sư phạm Địa lí A 15,0 10
A1
C 16,0

Xét tuyển cao đẳng (chỉ tiêu: 990)

Chỉ xét tuyển từ kết quả thi tuyển sinh đại học.

Stt Ngành Khối Điểm nhận hồ sơ

xét tuyển NV2

Chỉ tiêu xét tuyển NV2
1 Việt Nam học (Văn hóa – Du lịch) A1 13,0 60
C
D1
2 Tiếng Anh (Thương mại – Du lịch) D1 13,0 60
3 Lưu trữ học C 11,0 30
D1
4 Quản trị văn phòng A1 13,0 30
C
D1
5 Thư kí văn phòng A1 11,0 30
C
D1
6 Công nghệ thông tin A 13,0 40
A1
D1
7 Công nghệ Kĩ thuật điện, điện tử A 11,0 30
A1
D1
8 Công nghệ Kĩ thuật điện tử, truyền thông A 11,0 30
A1
D1
9 Công nghệ kỹ thuật môi trường A 11,0 40
A1
B
10 Giáo dục Tiểu học A 13,0 250
A1
D1
11 Giáo dục Công dân C 11,0 30
D1
12 Sư phạm Toán học A 15,0 30
A1
13 Sư phạm Vật lí A 14,0 30
A1
14 Sư phạm Hóa học A 30
15 Sư phạm Sinh học B 30
16 Sư phạm Kĩ thuật Công nghiệp A 10,0 30
A1 10,0
B 11,0
D1 10,0
17 Sư phạm Kĩ thuật Nông nghiệp A 10,0 30
A1
B 11,0
D1 10,0
18 Sư phạm Kinh tế Gia đình A 10,0 30
A1
B 11,0
C
D1 10,0
19 Sư phạm Ngữ văn C 15,0 30
D1
20 Sư phạm Lịch sử C 11,0 30
21 Sư phạm Địa lí A 11,0 30
A1
C
22 Sư phạm Tiếng Anh D1 14,0 60
Cộng 990

Đỗ Hợp

Từ khoá: kinh tế âm nhạc mầm non kết quả công trình kế toán nhà hàng tuyển sinh đào tạo du lịch thông tin giấy chứng nhận giáo dục kỹ thuật kinh doanh tài chính dịch vụ công nghệ

Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

USD vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. USD chỉ sa sút phong độ trong ngắn hạn. Và khi kinh tế Mỹ hồi phục, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

Box: Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

Trang 1 / 2

Đồng USD vẫn chưa thể bị thay thế trong dự trữ và thanh toán toàn cầu. Đó là ý kiến của ông Jonathan Larsen, Tổng Giám đốc phụ trách bán lẻ và thẻ tín dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Citi (Mỹ) trong cuộc phỏng vấn với NCĐT, nhân dịp ông đến TP.HCM dự lễ khai trương dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng Citi tại Việt Nam.

Ông nghĩ gì về việc đồng USD đang yếu đi?

Hãy còn quá sớm để cho rằng đồng USD đã yếu thế. Trong quá khứ, đồng tiền này cũng từng nhiều lần gặp khó khăn nhưng rồi đã vươn lên lại. Hiện tại, đây vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. Vì vậy, nhu cầu sử dụng USD luôn ở mức cao. Và một khi kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ phục hồi, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

USD sẽ xuống giá đến mức nào trong tình hình hiện nay?

Trong ngắn hạn, USD có thể yếu đi vì Mỹ đang thâm hụt ngân sách hơn 1.400 tỉ USD. Nhưng USD yếu lại có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Mỹ.

Có nguồn tin cho rằng, các nước vùng Vịnh cùng Nga, Pháp, Trung Quốc và Nhật Bản muốn dùng đồng tiền khác dựa trên một rổ tiền tệ bao gồm đồng yên, euro, nhân dân tệ và một đồng tiền chung của vùng Vịnh (sẽ được tạo ra) để thay thế USD trong buôn bán dầu lửa. Theo ông, việc này có thể thành hiện thực hay không?

Đây là điều khó có thể xảy ra. Thứ nhất, USD vẫn là đồng tiền mạnh. Hơn nữa, rất ít quốc gia muốn biến đồng nội tệ của mình thành đồng tiền sử dụng trong thương mại toàn cầu và đồng tiền dự trữ của nước khác.Như vậy, họ sẽ phải chịu nhiều áp lực trong quan hệ kinh tế, thương mại, có thể gây tổn hại đến quyền lợi của quốc gia.

Nhưng họ cũng có thể tạo ra một đồng tiền quốc tế dựa trên đơn vị tiền tệ quy ước (SDR) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như đề nghị của Trung Quốc hồi tháng 3 vừa qua?

Một số nước từng trao đổi với nhau về khả năng này. Nhưng đây là điều khó thực hiện được, dẫu trong dài hạn.

Có phải khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự chấm dứt?

Câu trả lời là chưa có gì chắc chắn, mặc dù chúng ta đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Về thực chất, cuộc khủng hoảng đã diễn ra trong 3 giai đoạn, bắt đầu từ Mỹ rồi lan ra toàn cầu. Giai đoạn thứ nhất là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu do chứng khoán phái sinh có gốc bất động sản bị rớt giá nghiêm trọng, khiến nhà đầu tư mất niềm tin vào các định chế tài chính. Tiếp đến là tiêu dùng bị xuống dốc, chủ yếu do siết chặt tín dụng tiêu dùng.

Giai đoạn 1 nay đã qua rồi. Thị trường chứng khoán đã phục hồi và nhà đầu tư đã lấy lại niềm tin đối với một số công cụ tài chính. Nhưng giai đoạn 2 thì vẫn chưa chấm dứt, mới qua được điểm đỉnh mà thôi; nhiều người vẫn bị phá sản, không trả được nợ vay ngân hàng. Gần đây, các ngân hàng đã bớt thắt chặt tín dụng, cho giãn thời hạn thanh toán. Vì thế, mặc dù rủi ro vẫn còn, nhưng giai đoạn 2 của cuộc khủng hoảng đã lắng dịu.

Tuy nhiên, giai đoạn 3 của cuộc khủng hoảng vẫn đang diễn ra trong khu vực bất động sản thương mại. Tình trạng các khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn bị đóng cửa, đặc biệt là ở Mỹ, vẫn diễn ra thường xuyên. Các bất động sản này đang xuống giá, nên có một số nhà đầu tư nhảy vào lĩnh vực này để nắm bắt cơ hội mua tài sản với giá rẻ. Nhưng nói chung, đây vẫn là khu vực nhạy cảm.

Tin vui là nền tài chính thế giới đã ổn định trở lại. Các ngân hàng lớn trên thế giới không còn đối mặt với tình trạng thiếu vốn nữa, dẫu chưa phải tất cả đã bình thường.

Ông có cho rằng sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng mới nữa như cảnh báo của một số nhà kinh tế?

Tôi không nghĩ như họ. Đừng quên là ngân hàng trung ương các nước đều chống lưng cho các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và cho cả hệ thống tài chính.

Nhà đầu tư đang rất hồ hởi trước sự phục hồi của kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế châu Á. Có thể lạc quan như vậy không, thưa ông?

Nhà đầu tư hồ hởi cũng đúng thôi. Lấy ví dụ về nền kinh tế Singapore. Đây là nền kinh tế hướng đến xuất khẩu, giống như nhiều nền kinh tế châu Á khác. Giá trị xuất khẩu của Singapore tương đương 250% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và quý I năm nay, xuất khẩu của đảo quốc này đã giảm đến 40% so với cùng kỳ năm 2008, khiến tăng trưởng GDP bị âm.

Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng trở lại đây, các hoạt động kinh tế của Singapore đã nhộn nhịp trở lại, đặc biệt là trong ngành điện tử. Một phần là do nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc gia tăng nhờ gói kích cầu khổng lồ 586 tỉ USD của Chính phủ. Hoạt động nhập khẩu của châu Âu phục hồi (nhờ vào các chương trình kích thích kinh tế của các chính phủ) cũng góp phần vào sự phục hồi của Singapore.

Nhưng đâu là nhu cầu lớn nhất của thế giới?

Đây là điều cần phải xem xét cẩn thận. Cần biết rằng, Mỹ là nền kinh tế trị giá 14.000 tỉ USD mà 70% trong số đó là tiêu dùng. Người Mỹ thì mua hàng của cả thế giới, nhưng nay lại gia tăng tiết kiệm. Cần phải có thời gian để nhu cầu tiêu dùng ở Mỹ phục hồi. Tôi lạc quan trong ngắn hạn đối với tăng trưởng của một số nền kinh tế châu Á, nhưng về dài hạn thì cần phải theo dõi thêm. Phát triển có bền vững hay không mới là quan trọng.

Trang12Trang kế tiếp

Từ khoá: kinh tế thế giới thế giới kinh tế nhu cầu tiêu dùng khủng hoảng trung quốc ngân hàng tín dụng xuất khẩu singapore tài chính động sản gia thanh toán nhu cầu tiêu dùng tổng giám đốc bất động sản thị trường chứng khoán nền kinh tế chứng khoán toàn cầu

Tăng giá điện, khó tránh tác động đến sản xuất và giá cả

(HNM) – Như Báo Hànộimới đã đưa tin, từ ngày 1-8-2013, giá bán điện bình quân là 1.508,85 đ/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng), tăng 5% so với giá bán điện bình quân áp dụng trước đó (1.437 đ/kWh).

Việc điều chỉnh giá điện được lý giải là để bù đắp phần chi phí phát điện tăng lên do tăng giá than, tăng giá khí, quyết toán sản lượng vượt bao tiêu khí và bù đắp một phần chênh lệch tỷ giá còn tồn của các năm trước chưa tính hết vào giá bán điện. Dù đã được nghiên cứu để hạn chế tối đa ảnh hưởng đến người nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nhưng khó tránh tác động đến các ngành sản xuất.

Bù đắp một phần chi phí tăng thêm

Theo Thông tư số 19/2013/TT-BCT ngày 31-7-2013 của Bộ Công thương quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện, từ ngày 1-8-2013, giá điện bán lẻ bình quân được áp dụng sẽ tăng 5% từ 1.437 đ/kWh lên 1.508,85 đ/kWh.

Giá điện được áp dụng từ ngày 1-8-2013 ít ảnh hưởng đến người nghèo. Ảnh: Trung Kiên
Giá điện được áp dụng từ ngày 1-8-2013 ít ảnh hưởng đến người nghèo. Ảnh: Trung Kiên

Theo Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường, cứ 3 tháng Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải có trách nhiệm cập nhật một lần các thông số cơ bản về giá nhiên liệu (giá than, dầu, khí); biến động tỷ giá (chủ yếu là USD) và cơ cấu sản lượng điện phát để làm cơ sở điều chỉnh giá bán điện. Như vậy, tính từ thời điểm điều chỉnh giá bán điện gần nhất là tháng 12-2012 đến 31-7-2013, tỷ giá bình quân gia quyền tăng 0,4%; giá than cho sản xuất điện bình quân gia quyền tăng 35,7%; giá khí tăng 2,2% và giá dầu (DO, FO cho sản xuất điện) tăng 9,6%, trong khi đó, theo cơ cấu sản lượng điện phát so với phương án tính toán, nhiệt điện than tăng 19%; khí tăng gần 6%.

Việc tăng giá than và khí cùng với tăng sản lượng phát từ hai nguồn chiếm tới 55%-65% tổng sản lượng phát toàn hệ thống đã khiến cho chi phí khâu phát điện tăng đáng kể. Chi phí sản lượng phát điện bằng nguồn nhiên liệu than tăng 5.198 tỷ đồng; sản lượng phát điện bằng khí chi phí tăng hơn 1.593 tỷ đồng. Chi phí tăng thêm từ nguồn than và khí đã chiếm từ 80-90% tổng chi phí tăng thêm trong thời gian từ tháng 12-2012 đến 31-7-2013.

Với áp lực này, lại thêm phải phân bổ lỗ từ 2011 và chênh lệch tỷ giá đánh giá lại từ năm 2012 về trước. Năm 2011, khoản lỗ của EVN gần 11.500 tỷ đồng, năm 2012, sản xuất kinh doanh của EVN có lãi nên đã bù được một phần, khoản lỗ còn lại là 7.962 tỷ đồng; chênh lệch tỷ giá từ 26.000 tỷ đồng (năm 2011) còn 15.114 tỷ đồng. Như vậy, tổng khoản lỗ của EVN đã giảm từ 38.000 tỷ đồng xuống còn 23.000 tỷ đồng.

Với một báo cáo tài chính lỗ như EVN hiện nay sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn từ trái phiếu doanh nghiệp hoặc vay từ các tổ chức tín dụng. Do đó cần một lộ trình giá điện để cải thiện dần các chỉ tiêu tài chính của EVN, tạo điều kiện cho EVN huy động được các nguồn vốn khác trong thời gian tới. Theo Quyết định 854/QĐ-TTg ngày 10-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm (2011-2015) của EVN, lộ trình giá điện được tính toán hợp lý trên các nguyên tắc sau: Thực hiện phân bổ các khoản lỗ do sản xuất kinh doanh điện chưa tính hết vào giá điện từ trước năm 2011 cho các năm 2012 và 2013. Phân bổ các khoản chênh lệch tỷ giá trong các giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015. Từng bước nâng dần giá bán điện để đến năm 2013 giá bán điện bình quân theo giá thị trường. Đến năm 2015 các chỉ tiêu tài chính đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính cho vay vốn. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 3 lần; tỷ lệ tự đầu tư lớn hơn 30%; hệ số thanh toán nợ lớn hơn 1,5 lần.

Điều này có nghĩa là giá điện phải phản ánh đầy đủ chi phí đầu vào hợp lý và ngành điện phải đạt được lợi nhuận nhất định để có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc đủ điều kiện để phát hành trái phiếu doanh nghiệp bảo đảm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cung ứng điện và đầu tư nguồn điện, hệ thống lưới điện trong tương lai. Tuy nhiên, chi phí đầu vào trong các khâu sản xuất, kinh doanh điện cần phải được kiểm soát hết sức chặt chẽ để bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả trong hoạt động của ngành điện, giảm áp lực tăng giá điện.

Nếu từ nay đến hết năm, không có biến động về tỷ giá sẽ đáp ứng được các tiêu chí, chỉ tiêu về tài chính của các tổ chức tín dụng cho vay tiền đầu tư. Nếu chính sách điều chỉnh tỷ giá có biến động sẽ có tác động xấu đến bức tranh tài chính của EVN vào 5 tháng cuối năm, chưa kể, biến động giá than, khí, xăng dầu…

Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VII, từ nay đến năm 2030, mỗi năm sẽ đưa 5.000MW nguồn mới vào vận hành và xây dựng công trình trạm, đường dây đồng bộ với tổng vốn đầu tư cho tới năm 2020 là khoảng 5 tỷ USD, từ năm 2020 tới 2030 khoảng 60 tỷ USD. Vì vậy, nếu sản xuất kinh doanh của EVN rơi vào tình trạng thua lỗ như năm 2010 và 2011 sẽ khó khăn vay vốn để tiếp tục triển khai các dự án. EVN cho biết, trong giai đoạn 2011-2015, EVN có nhu cầu đầu tư hơn 500.000 tỷ đồng.

Tiết kiệm để giảm chi phí – không thể khác

Theo Bộ Công thương, căn cứ vào dự báo sản lượng điện thương phẩm năm 2013, đánh giá tác động của việc tăng giá điện 5% so với giá bình quân đang áp dụng, chi phí của nhiều lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến sinh hoạt của người dân sẽ tăng. Cụ thể, các ngành sản xuất sẽ tăng chi phí thêm hơn 1.800 tỷ đồng; nhóm hành chính sự nghiệp tăng khoảng 146 tỷ đồng; ngành kinh doanh, dịch vụ tăng khoảng 326 tỷ đồng và tác động trực tiếp khiến CPI tăng 0,123%. Bên cạnh đó cần phải tính đến sự gia tăng chi phí của một số yếu tố đầu vào khác, trong đó đáng kể là xăng dầu đã nhiều lần điều chỉnh tăng giá bán lẻ trong thời gian qua sẽ có tác động trực tiếp tới nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế – xã hội.

Giá bán điện bình quân cho các ngành sản xuất từng bước tiến tới không thấp hơn giá thành sản xuất kinh doanh điện, nhưng giữ ổn định giá bán điện cho người sử dụng điện tiết kiệm bằng hoặc dưới 50 kWh/tháng, hạn chế tác động giá điện đối với hộ sử dụng đến 100k Wh/tháng, không ảnh hưởng đến người nghèo. Theo đó tiếp tục giữ nguyên như giá bán hiện hành đối với hộ sử dụng từ 0-50 kWh; hộ sử

dụng từ 0-100 kWh/tháng sẽ tăng 6.800 đồng/tháng; hộ sử dụng 101 kWh/tháng-150 kWh/tháng tăng 10.650 đồng/tháng; hộ sử dụng 151 kWh/tháng-200 kWh/tháng tăng 15.500 đồng/tháng; hộ sử dụng 201 kWh/tháng-300 kWh/tháng tăng 26.000 đồng/tháng và hộ sử dụng từ 301 kWh/tháng-400 kWh/tháng sẽ tăng 37.200 đồng/tháng.

Với việc tăng giá bán điện lần này cho thấy có tăng nhưng ở mức kiềm chế do chỉ bù đắp một phần chi phí tăng thêm từ tăng giá than, khí. Bởi, theo dự báo sản lượng điện theo kế hoạch năm 2013 là 117 tỷ kWh, giá bán điện lẻ bình quân tăng thêm từ ngày 1-8-2013 là 5%, như vậy chỉ còn 5 tháng còn lại doanh thu tăng thêm là 3.600 tỷ đồng, trong khi đó chi phí tăng thêm từ sản xuất điện bằng nguồn than và dầu khí hơn 6.000 tỷ đồng.

Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều giải pháp giải quyết cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp duy trì ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ, bảo đảm an sinh xã hội. Những giải pháp của các cấp, ngành hỗ trợ và nỗ lực tự thân của doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, vật tư nhằm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm cũng cần được triển khai đồng bộ. Trong đó “tiết kiệm là quốc sách” luôn là giải pháp cần được coi trọng trên các lĩnh vực.

Như vậy, tính trên tổng thể, tăng giá điện (mặc dù để bù đắp chi phí ngành điện) là hợp lý, nhưng cùng với việc tăng giá xăng, ga, khí (những nguyên liệu đầu vào quan trọng trong sản xuất, kinh doanh) đã làm cho giá cả đội lên. Giữa điều tiết vi mô và vĩ mô có những vấn đề phức tạp: không tăng giá điện, ngành điện sẽ lỗ lớn, không duy trì hoạt động tốt được; nhưng tăng giá điện thì góp phần đẩy giá cả nói chung lên cao hơn; trong khi đó tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nước ta chưa dừng lại, thu nhập, việc làm của người dân đang khó khăn, trị giá đồng lương lại giảm… Xử lý hài hòa các vấn đề “liên thông” nhau như vậy không hề đơn giản. Riêng đối với việc tăng giá điện, nói không ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, đến người nghèo là chưa đúng. Vấn đề ở đây là phương án giá, vận dụng giá đối với các đối tượng phải được chọn ở mức ảnh hưởng thấp nhất có thể. Tiếp đó, “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi phí, là cách làm không thể khác của tất cả các thành phần kinh tế, thành phần xã hội trong giai đoạn này. Bởi vì, Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn cũng chỉ ở mức độ nhất định. Muốn vượt thoát, các doanh nghiệp phải tiết kiệm chi phí và tìm hướng đi mới – ngành điện cũng không ngoại lệ, mà phải trở thành điển hình của tiết kiệm chi phí. Khi trở thành điển hình của tiết kiệm chi phí, ngành điện mới không bị “truy vấn” về lý do tăng giá điện như hiện nay.

Hà Nội: Hơn 2.700 công nhân tham gia chốt chỉ số công tơ

(HNM) – Sáng 1-8, hơn 2.700 công nhân Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HANOI) đã đồng loạt ra quân thực hiện chốt chỉ số công tơ cho gần 143.000 khách hàng ký hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt.

Chuẩn bị cho việc áp giá điện mới, các Công ty Điện lực đã gửi giấy thông báo kế hoạch chốt chỉ số công tơ tới tất cả các khách hàng ký hợp đồng mua bán điện ngoài mục đích sinh hoạt và đề nghị phối hợp cùng điện lực trong việc giám sát kiểm tra việc chốt chỉ số công tơ.

Từ khoá: dịch vụ kinh doanh nền kinh tế người nghèo tín dụng bão giải pháp kinh tế gia chất lượng sản phẩm tiết kiệm nâng cao chất lượng doanh nghiệp thuế giá trị gia tăng chính phủ giá trị gia tăng evn khó khăn tài chính chi phí giá thành sản xuất vay vốn kế hoạch

‘Bữa tiệc’ chứng khoán Trung Quốc đã tàn

Trong 4 năm qua, giới đầu tư chứng khoán tại Trung Quốc mất nhiều tiền hơn ở bất kỳ thị trường nào khác trên thế giới

Cú “ngã ngựa” của thị trường chứng khoán Trung Quốc diễn ra ngay sau khi nền kinh tế này đóng vai trò đầu tàu kéo thế giới khỏi cuộc suy thoái hậu khủng hoảng tài chính.

Theo số liệu từ hãng tin tài chính Bloomberg, trong thời gian 10 tháng tính đến tháng 8/2009, chỉ số Shanghai Composite Index của thị trường chứng khoán Trung Quốc tăng gấp đôi. Kết quả này có được là nhờ Bắc Kinh chi 652 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, đến nay, chỉ số này đã giảm 43% từ mức đỉnh trên, làm “bốc hơi” 748 tỷ USD vốn hóa thị trường.

Hệ số P/E (giá/cổ phiếu) – một thước đo về độ đắt đỏ của cổ phiếu – của chỉ số Shanghai Composite Index hiện ở mức 10,7 lần, so với mức 29 lần ở thời kỳ đỉnh cao năm 2009.

Trên thế giới, chỉ có chỉ số ASE Index của thị trường chứng khoán Hy Lạp là vượt được Shanghai Composite Index về độ giảm tính theo giá trị phần trăm trong cùng khoảng thời gian. Trong khi đó, chỉ số Standard & Poor’s 500 của thị trường chứng khoán Mỹ đã phục hồi toàn bộ mất mát trong thời gian suy thoái và tăng được 68% kể từ thời điểm thị trường chứng khoán Trung Quốc đạt định. Trong tháng 7 này, S&P 500 đã thiết lập mức kỷ lục mới.

Vào năm 2009, kinh tế Trung Quốc thể hiện rõ sức tăng trưởng mạnh mẽ tưởng như không gì cản nổi. Khi đó, Trung Quốc đã vượt Đức thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Quý 1/2009, GDP Trung Quốc tăng 6% trong khi GDP của Mỹ giảm 4%. Vào tháng 7/2009, ông Mark Mobius, Chủ tịch điều hành quỹ Templeton Emerging Markets Group, dự báo chỉ trong vòng 3 năm thị trường chứng khoán Trung Quốc sẽ lớn hơn cả thị trường Mỹ.

Nhưng trong 4 năm sau đó, mọi chuyện đã chuyển khác. Năm nay, kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ có mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 1990. Chính phủ nước này đã yêu cầu hơn 1.400 công ty khắp cả nước phải đóng cửa nhà máy.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Trung Quốc chính là nền kinh tế đóng góp nhiều nhất vào tiến trình hồi phục toàn cầu. Gói cho vay 1,6 nghìn tỷ USD được các ngân hàng Trung Quốc bơm ra thị trường khi đó đã đẩy giá nhà ở nước này lên mức cao kỷ lục và đưa các chính quyền địa phương đến với những khoản nợ khổng lồ.

Để khắc phục những tác dụng phụ không mong muốn này, Trung Quốc gần đây đã áp dụng các biện pháp kiểm soát tín dụng và giá nhà. Hiện Bắc Kinh đang nỗ lực cải tổ nền kinh tế, đưa Trung Quốc từ một nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu thành một nền kinh tế được dẫn dắt bởi tiêu dùng. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã phát tín hiệu sẵn sàng chấp nhận tốc độ tăng trưởng chậm hơn để tái cân bằng nền kinh tế.

Tháng trước, lần đầu tiên kể từ năm 2006, các công ty Trung Quốc đã biến mất khỏi xếp hạng 10 doanh nghiệp niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới. Vào năm 2009, khi nhà đầu cơ tỷ phú George Soros khen ngợi kinh tế Trung Quốc, có 5 công ty Trung Quốc trong danh sách này.

Chuyên gia kỹ thuật thị trường Carter Worth thuộc công ty Oppenheimer ở New York đánh giá, thị trường chứng khoán Trung Quốc giờ giống như một “con vật đã chết”. Theo ông Worth, dù Shanghai Composite Index không còn giảm mạnh như 4 năm trước, khả năng tăng điểm của chỉ số này là rất thấp.

Sự sụt giảm của chứng khoán Trung Quốc 4 năm qua xứng đáng được ghi vào lịch sử. Bloomberg đưa ra số liệu so sánh cho thấy, trong cuộc đại suy thoái ở Mỹ, chỉ số công nghiệp Dow Jones của thị trường Mỹ giảm 89% từ mức đỉnh năm 1929 tới mức đáy năm 1932. Gần đây hơn, chỉ số Nikkei 225 của Nhật mất 63% số điểm trong thời kỳ 2000-2003.

Nếu tính từ đầu năm đến nay, Shanghai Composite Index đã giảm 12%. Giá cổ phiếu của PetroChina – công ty mà ở thời điểm tháng 3/2010 còn giữ vị trí doanh nghiệp niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất thế giới – đã giảm 11% từ đầu năm. Hiện PetroChina đứng ở vị trí thứ 10 trong xếp hạng về giá trị vốn hóa, với mức vốn hóa 233 tỷ USD.

Hệ số P/E (giá/cổ phiếu) – một thước đo về độ đắt đỏ của cổ phiếu – của chỉ số Shanghai Composite Index hiện ở mức 10,7 lần, so với mức 29 lần ở thời kỳ đỉnh cao năm 2009.

Trái với sự giảm điểm của chứng khoán Trung Quốc, chỉ số S&P 500 hiện tăng 18% so với thời điểm chốt năm 2012. Trong 4 năm qua, tổng mức vốn hóa của các doanh nghiệp thuộc chỉ số này tăng thêm 6,4 nghìn tỷ USD.

“Tâm lý của giới đầu tư chứng khoán ở Trung Quốc có thể đi từ thái cực này tới thái cực khác”, nhà quản lý tài sản Gigi Chan thuộc công ty Threadneedle Asset Management ở Singapore nhận xét. “Các nhà đầu tư đã rất cao hứng, kỳ vọng mức tăng cao hơn của thị trường trong tương lai. Nhưng cuối cùng, mọi thứ đã không diễn ra như vậy”.

Dù vậy, nhiều nhà đầu tư dài hạn vẫn cho rằng, thị trường 1,3 tỷ dân của Trung Quốc xứng đáng để họ chờ đợi cơ hội, vì sẽ đến lúc Trung Quốc vượt Mỹ thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Theo ông Jim O’Neill – cựu kinh tế gia của Goldman Sachs và cũng chính là người đã đưa ra thuật ngữ BRIC vào năm 2001 để chỉ nhóm nền kinh tế mới nổi Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – kinh tế Trung Quốc có thể vượt Mỹ vào năm 2027.

Theo VnEconomy

Từ khoá: công ty thị trường tăng trưởng mạnh mẽ đầu tư chứng khoán doanh nghiệp chứng khoán khủng hoảng tài chính tài chính trung quốc nền kinh tế thị trường chứng khoán thế giới cổ phiếu tăng trưởng kinh tế gia giới đầu tư

5 lý do Real không nên cố mua Bale

1. Ancelotti không cần Bale

Việc sở hữu một ngôi sao chất lượng như Bale trong đội hình, là điều mà bất cứ HLV nào trên toàn thế giới đều muốn. Tuy nhiên, Ancelotti lại khác, ông khẳng định, Real không cần đến Bale mà vẫn có thể cạnh tranh sòng phẳng với Barca.

Bằng chứng là sau chiến thắng đậm đà 6 – 0 Bournemouth, đội bóng hạng 2 của Anh trong trận giao hữu hôm 22/7. Sau trận đấu, chiến lược người Italia khẳng định, Real không cần tăng cường thêm nhân sự trong mùa Hè này.

Có Ronaldo, Ancelotti không cần đến Bale. Ảnh: Getty.

Trước đó, HLV người Italy cũng chia sẻ với các phóng viên khi nói về Bale: “Mọi người đều biết rằng Bale là cầu thủ xuất sắc. Tuy nhiên, tôi hài lòng với lực lượng hiện tại của Real Madrid và tôi không muốn nói nhiều đến những cầu thủ của các đội bóng khác”.

Lý do mà Ancelotti không cần đến Bale, bởi vì trong tay ông đã có rất nhiều ngôi sao sáng giá, đặc biệt là Ronaldo. Tiền vệ người Bồ, được ông thầy người Ý khen ngợi rất nhiều kể từ khi nhậm chức tại Bernabeu.

2. Real đang thừa tiền vệ cánh

Ronaldo là cái tên sáng giá nhất trong hàng tiền vệ của Real lúc này, điều đương nhiên là CR7 sẽ được chơi mặc định ở bên hành lang cánh trái. Đây lại là vị trí sở trường của Bale, nếu về Real thì chắc chắn anh sẽ không thể cạnh tranh với CR7. Như vậy, buộc Ancelotti phải đẩy Ronaldo đá cao hơn, hoặc xếp Bale sang cánh phải vị trí thường dành cho những cầu thủ thuận chân trái.

Real đang thừa tiền vệ cánh. Ảnh: Getty.

Tuy nhiên, ở Real vị trí tiền vệ cánh phải lại đang thừa người, từ Ozil, Di Maria, Luka Modric thậm chí là cả Isco đều đảm nhiệm khá tốt vị trí này.

Trong 3 trận giao hữu gần đây, 3 cầu thủ Ozil, Di Maria và Isco được Ancelotti bố trí chơi ở cánh phải, cả 3 đều thi đấu rất tốt. Ozil nhạc trưởng của Real trong 3 mùa giải qua, sau 2 trận đầu tiên còn gặp chút khó khăn khi bị đẩy sang cánh phải, tiền vệ người Đức đã thi đấu rất bùng nổ trong trận thắng PSG hôm 28/7 vừa qua.

Ngoài 3 cái tên trên, thì Modric và Kaka cũng chơi rất tốt khi được đá cánh dưới thời Mourinho. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, nếu Bale đến Real, sẽ khiến hàng tiền vệ của Kền kền lâm vào khủng hoảng thừa trầm trọng.

3. Ronaldo sẽ lại “buồn”

Đến Bernabeu từ năm 2009 với giá chuyển nhượng kỷ lục thế giới 80 triệu bảng. Từ đó tới nay, cầu thủ đắt giá nhất hành tinh vẫn đang cho thấy anh đáng giá từng xu mà Perez đã bỏ ra. Không chỉ giúp Real phế bỏ sự thống trị của Barca ở La Liga để lên vô địch lần thứ 32, mà Ronaldo còn biến Real trở thành nỗi khiếp sợ của Barca trong 2 năm cuối dưới thời Mourinho.

Tuy nhiên, đó là lúc CR7 “vui” thì tất cả đều tốt đẹp như vậy, còn lúc “buồn” thì mọi chuyện đến với Real lại khác. Còn nhớ, hồi đầu mùa giải 2012 – 2013, Ronaldo tuyên bố mình không hạnh phúc tại Madrid. Ngay lập tức, thành tích của đội bóng Hoàng gia tụt dốc thê thảm, họ để Barca một mình băng về đích và lên ngôi vô địch.

Ronaldo vẫn đang là cầu thủ đắt giá nhất thế giới. Ảnh: Getty.

Real Madrid trắng tay ở mùa giải vừa rồi, như thường lệ, Perez vẫn sẽ dùng tiền để mang về những cầu thủ chất lượng để đổi lấy danh hiệu. Nhưng việc ông dùng 85 triệu bảng để gạ Tottenham nhả Bale, theo nhiều người, đó là điều mà Ronaldo không thích chút nào.

Chưa nói đến trình độ, đẳng cấp chơi bóng của Bale vẫn còn thua kém Ronaldo một bậc, chỉ nhìn vào số tiền 85 triệu bảng mà Perez sẵn sàng chi để có Bale cũng khiến Ronaldo có lý do để buồn. Đơn giản vì Ronaldo vẫn muốn mình là số 1 ở Real, xa hơn là một núi không thể có 2 hổ.

4. Bale không đáng giá 85 triệu bảng

Rất nhiều bài bình luận, kèm theo đó là phản hồi của đọc giả nhận xét, xung quanh việc Perez sẵn sàng chi 85 triệu bảng, để có được chữ ký của tiền vệ xứ Wales là sự điên rồ. Bởi theo họ, tài năng của Bale chưa thể so sánh với những Ronaldo và Messi.

Khởi nghiệp từ vị trí hậu vệ cánh trái, Bale được HLV Harry Redknapp đẩy lên chơi tiền vệ cánh trái trong mùa giải 2010/2011. Bale được cả thế giới để ý sau cú hattrick vào lưới nhà đương kim vô địch Champions League Inter Milan.

Real sẵn sàng trả 85 triệu bảng để có Bale. Ảnh: Getty.

Tiền vệ xứ Wales, là cái tên sáng giá nhất trong đội hình của Tottenham 2 mùa giải vừa qua. Với 26 bàn thắng sau 44 lần ra sân ở mùa giải 2012 – 2013, Bale đã hoàn tất cú hattrick danh hiệu cá nhân: Cầu thủ hay nhất nước Anh; cầu thủ trẻ của năm do PFA (Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp) và giải thưởng FWA (Hiệp hội báo chí thể thao Anh) bình chọn.

Tuy nhiên, nếu mang thành tích này để so sánh với Ronaldo thì Bale vẫn còn khá khiêm tốn. Ronaldo đến Bernabeu với giá 80 triệu bảng vào năm 2009, với cương vị là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới, khi đã giúp M.U lên ngôi vương tại Champions League năm 2008.

Xa hơn là Kaka cũng đến Real với giá 65 triệu Euro năm 2009, khi đó Kaka cũng là chủ nhân của QBV năm 2007, khi đưa AC Milan đăng quang Champions League năm đó. Về phần mình, Bale chỉ đưa Tottenham cán đích ở vị trí thứ 5 tại Premier League, không được dự Champions League mùa giải năm sau.

Do đó, có thể khẳng định, cái giá 85 triệu bảng để sở hữu một ngôi sao tiềm năng như Bale là quá hời cho Tottenham và nó vượt xa giá trị thực của tiền vệ người xứ Wales.

5. Nỗi lo về luật công bằng tài chính

Luật công bằng tài chính được khởi xướng bởi Chủ tịch Michel Platini. Theo đó, các đội nợ nhiều hay gặp khó khăn về tài chính sẽ không được phép tham dự cúp châu Âu. Cụ thể, một đội bóng chỉ được phép lỗ tối đa 45 triệu Euro/mùa. Con số này sẽ giảm xuống còn 30 triệu Euro bắt đầu từ năm 2014 đến 2017, sau đó UEFA hy vọng định hạn sẽ về mức 0, tức là các đội bóng sẽ đạt được cân bằng về thu chi.

Real thu về gần 67 triệu Euro khi bán người cho Napoli. Ảnh: Getty.

Mùa Hè này, Real Madrid đã thu được gần 67 triệu Euro từ việc bán Higuain, Callejon và Albiol cho Napoli, cộng với điều khoản hời từ thương vụ Negredo sang Man City. Tuy nhiên, họ lại mất gần 80 triệu Euro để mang về Isco, Casemiro, Illarramendi, Carvajal.

Do đó, nếu bỏ ra 85 triệu bảng nữa để mua Bale, thì không ai dám chắc Real Madrid sẽ cân đối được nguồn tài chính khi đã bạo chi tới hơn 120 triệu Euro trong kỳ chuyển nhượng mùa Hè này.

Real vẫn tự hào là CLB kinh doanh giỏi sau những bản hợp đồng bom tấn của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng là giá trị hình ảnh của Bale, không có sức hút lớn với những nhà quảng cáo, nhà tài trợ như Ronaldo và Kaka, để Real có thể thu hồi vốn nếu vẫn cố đâm đầu vào./.

Từ khoá: thế giới ngôi sao gia tài chính

Điểm chuẩn ĐH Nông lâm TP.HCM dự kiến tăng 3-5 điểm

(TNO) Sáng 28.7, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM đã công bố điểm thi. Nhiều ngành có điểm khá cao và dự kiến điểm chuẩn sẽ tăng từ 3-5 điểm.

>> Trường ĐH Nông lâm TP.HCM công bố điểm thi

>> Tra cứu điểm thi ĐH-CĐ 2013

Thí sinh có thể tra cứu điểm thi tại đây.

Tổng chỉ tiêu của Trường ĐH Nông lâm TP.HCM là 5.300 (cho 29 ngành/53 chuyên ngành). Trường có 39.496 TS dự thi vào trường trong tổng số 40.256 TS dự thi (số còn lại là mượn trường thi).

Năm nay, có nhiều ngành có số lượng TS dự thi và điểm khá cao như: môi trường, công nghệ sinh học, thú y, thực phẩm, hóa học, nông học… Điểm chuẩn của một số ngành vào trường sẽ tăng.

TS vui vẻ trao đổi bài sau khi thi xong – Ảnh: Độc Lập

Thanh Niên Online xin cung cấp phổ điểm (biểu đồ phân bổ điểm thi đại học theo từng môn thi; tổng điểm của các môn thi) từng ngành để TS có thể tham khảo khả năng trúng tuyển.

Điểm chuẩn của trường có thể thay đổi vì chỉ tiêu tuyển sinh phải tính đến chỉ tiêu tuyển thẳng, xét tuyển thẳng đối với các đối tượng ưu tiên… hay hạn chế tỷ lệ TS ảo.

Với chỉ tiêu 100, ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp có 137 TS đạt từ 14 điểm; từ 14,5 điểm có 119 TS đạt. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái bằng sàn.

Ngành Ngôn ngữ Anh có 120 chỉ tiêu thì có 136 TS đạt từ 25 điểm (hệ số 2 môn ngoại ngữ). Từ 24 điểm có 206 TS đạt. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 18.

Ngành Kinh tế với chỉ tiêu 200 thì có 242 TS đạt từ 14 điểm (điểm chuẩn năm 2012).

Với chỉ tiêu 280, ngành Quản trị kinh doanh có 143 TS khối A đạt từ 15,5 điểm; 163 TS khối D đạt từ 15 điểm (điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 14 điểm khối A và 15 điểm khối D)

Ngành Kế toán với chỉ tiêu 120 có 140 TS đạt từ 16,5 điểm; từ 17 điểm có 116 TS đạt. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 14 khối A và 15 khối D.

Theo điểm chuẩn năm 2012, ngành Công nghệ sinh học có tới 964 TS đạt được (15 điểm khối A; 18 điểm khối B) so với chỉ tiêu 160. Ngành này có 101 TS khối B đạt từ 22 điểm; 73 TS khối A đạt từ 20,5 điểm. Khối B có 72 TS đạt từ 22,5 điểm thì khối A có 102 TS đạt từ 20 điểm.

Với chỉ tiêu 120, ngành Công nghệ thông tin có 73 TS khối D đạt được từ 16,5 điểm. Khối A từ 16 điểm có 82 TS đạt từ 15,5 điểm và 58 TS đạt từ 16 điểm. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 13 điểm khối A và 14 điểm khối D.

Ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí với chỉ tiêu 120 có 130 TS đạt từ 13 điểm (mức điểm chuẩn năm ngoái).

Ngành Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử có 61 TS đạt từ 13 điểm (mức điểm chuẩn năm ngoái) trong tổng số 60 chỉ tiêu.

Ngành Công nghệ kỹ thuật ô tô với chỉ tiêu 60 có 71 TS đạt từ 15 điểm. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 13 điểm.

Ngành Công nghệ kỹ thuật hóa học với chỉ tiêu 120 thì có 64 TS khối A đạt từ 18,5 điểm; 72 TS khối B đạt từ 20,5 điểm. So với điểm chuẩn năm ngoái (khối A: 14; khối B: 18) có tới 396 TS đạt được.

Ngành Kỹ thuật môi trường với chỉ tiêu 120 dành cho 2 khối A và B, khối A có 77 TS đạt từ 16,5 điểm; 62 TS đạt từ 17 điểm. Khối B có 89 TS đạt từ 20,5 điểm; 64 TS đạt 21 điểm. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 14 điểm khối A và 16 điểm khối B.

Ngành Công nghệ thực phẩm với chỉ tiêu 190 cho 2 khối A và B. Khối A có 84 TS đạt từ 20 điểm; 118 TS đạt từ 19,5 điểm. Khối B có 96 TS đạt từ 22 điểm; 145 TS đạt từ 21,5 điểm. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái là 15 điểm khối A và 16,5 điểm khối B.

Ngành Công nghệ chế biến thủy sản với chỉ tiêu 60 cho 2 khối A và B. Khối A có 42 TS đạt từ 16 điểm; 28 TS đạt từ 17 điểm. Khối B có 54 TS đạt từ 20 điểm. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái bằng điểm sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B).

Ngành Công nghệ chế biến lâm sản với 160 chỉ tiêu, khối A chỉ có 50 TS đạt từ 13 điểm; khối B có tới 121 TS đạt từ 16 điểm. Với 36 TS khối A từ 14 điểm, khối B có 132 TS đạt từ 15,5 điểm. Từ 15 điểm có 22 TS khối A; 159 TS khối B đạt. Điểm chuẩn ngành này năm ngoái bằng sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B).

Với chỉ tiêu 160, ngành Chăn nuôi có 180 TS đạt từ 15 điểm (trong đó khối A có 33 TS, khối B có 147 TS). Ngành này năm ngoái điểm chuẩn bằng sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B).

Năm ngoái, với điểm chuẩn bằng điểm sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B), ngành Nông học năm nay kết quả tăng cao. Ngành này có 140 chỉ tiêu dành cho khối A và khối B. Khối A có 68 TS đạt từ 18 điểm; 88 TS đạt từ 17,5 điểm. Khối B có 72 TS đạt từ 20,5 điểm và 94 TS đạt từ 20 điểm.

Cũng có điểm chuẩn bằng điểm sàn vào năm ngoái (13 điểm khối A, 14 điểm khối B), ngành Bảo vệ thực vật năm nay kết quả tăng cao. Ngành có 90 chỉ tiêu cho khối A và B. Khối A có 54 TS đạt từ 18,5 điểm; 40 TS đạt từ 19 điểm. Khối B có 54 TS đạt từ 21,5 điểm; 66 TS đạt từ 21 điểm và 78 TS đạt từ 20,5 điểm.

Ngành Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan năm ngoái lấy điểm chuẩn bằng sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B) và năm nay có 160 chỉ tiêu cho khối A và B. Khối A có 36 TS đạt từ 15 điểm; 42 TS đạt từ 14,5 điểm. Khối B có 151 TS đạt từ 16 điểm; 132 TS đạt từ 16,5 điểm.

Theo điểm chuẩn năm ngoái, ngành Kinh doanh nông nghiệp có 55 TS đạt được (13 điểm khối A và 14 điểm khối D). Với chỉ tiêu 60, ngành này có 77 TS đạt điểm sàn năm ngoái.

Ngành Lâm nghiệp có 380 TS đạt điểm chuẩn năm ngoái (13 điểm khối A và 14 điểm khối B). Với chỉ tiêu là 210, khối A có 61 TS đạt từ 14 điểm; khối B có 163 TS đạt từ 16 điểm.

Ngành Nuôi trồng thủy sản năm nay với 180 chỉ tiêu, khối B từ 17 điểm có 135 TS đạt được; khối A từ 15 điểm có 54 TS đạt được. Ngành này năm ngoái phải lấy điểm chuẩn bằng sàn (13 điểm khối A, 14 điểm khối B).

Ngành Thú y với điểm chuẩn năm ngoái (khối A: 15; khối B: 16,5 điểm) có 954 TS đạt được. Năm nay, với chỉ tiêu 190, khối A có 97 TS đạt từ 19 điểm; khối B có 106 TS đạt từ 21 điểm. Khối B với 149 TS đạt từ 20,5 điểm thì khối A có 62 TS đạt từ 20 điểm.

Ngành Quản lý tài nguyên và môi trường với điểm chuẩn năm ngoái (khối A: 14 và khối B: 16 điểm) có 1.606 TS đạt được, trong khi chỉ tiêu năm nay là 220. Từ 20,5 điểm có 173 TS khối B đạt được; từ 18,5 điểm có 75 TS khối A đạt. Từ 21 điểm có 118 TS khối B đạt được; từ 17,5 điểm có 129 TS đạt.

Ngành Quản lý đất đai từ 14 điểm (điểm chuẩn năm ngoái) có 1.007 TS đạt được. Với chỉ tiêu 360 của năm nay có 229 TS khối A đạt từ 16 điểm; 167 TS khối D đạt từ 16,5 điểm.

Các ngành Bản đồ học, Công nghệ kỹ thuật nhiệt, Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Phát triển nông thôn dự kiến sẽ xét tuyển bổ sung cho đủ chỉ tiêu.

Các trường ĐH-CĐ đã công bố điểm thi

(theo thứ tự mới nhất xếp trên)

156. Học viện Báo chí Tuyên truyền

155. Học viện Hàng không Việt Nam

154. ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM

153. ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh (ĐH Thái Nguyên)

152. ĐH Công nghệ thông tin và truyền thông (ĐH Thái Nguyên)

151. Khoa Ngoại ngữ (ĐH Thái Nguyên)

150. Khoa Quốc tế (ĐH Thái Nguyên)

149. ĐH Nông lâm (ĐH Thái Nguyên)

148. ĐH Kỹ thuật Công nghiệp (ĐH Thái Nguyên)

147. ĐH Sư phạm (ĐH Thái Nguyên)

146. ĐH Khoa học (ĐH Thái Nguyên)

145. ĐH Y – dược (ĐH Thái Nguyên)

144. CĐ Kinh tế – Kỹ thuật (ĐH Thái Nguyên)

143. ĐH Nông lâm Bắc Giang

142. ĐH Y Thái Bình

141. CĐ Sư phạm Hà Tây

140. ĐH Nông Lâm TP.HCM

139. CĐ Y tế Thái Bình

138. ĐH Nông nghiệp Hà Nội

137. ĐH Kinh tế (ĐH Đà Nẵng)

136. ĐH Sư phạm (ĐH Đà Nẵng)

135. Phân hiệu ĐH Đà Nẵng tại Kon Tum

134. ĐH Ngoại ngữ (ĐH Đà Nẵng)

133. ĐH Kinh tế Quốc dân

132. ĐH Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM

131. CĐ Sư phạm Hà Tây

130. ĐH Mỏ Địa chất Hà Nội

129. ĐH Công nghệ Đông Á

128. ĐH Hà Hoa Tiên

127. ĐH Thái Bình

126. ĐH Kinh tế Công nghiệp Long An

125. CĐ Xây dựng Nam Định

124. CĐ Kinh tế kỹ thuật Nghệ An

123. ĐH Quảng Bình

122. ĐH VHNT Quân đội hệ Cao đẳng quân sự

121. ĐH VHNT Quân đội hệ Cao đẳng dân sự

120. ĐH VHNT Quân đội (phía Nam)

119. ĐH VHNT Quân đội (phía Bắc)

118. CĐ Sư phạm Kon Tum

117. ĐH Tây Bắc

116. HV Ngân hàng (Phân viện Phú Yên)

115. HV Ngân hàng

114. ĐH Sư phạm kỹ thuật Nam Định

113. HV Hải quân (phía Bắc)

112. ĐH Hoa Sen

111. CĐ Kinh tế Kỹ thuật Kiên Giang

110. ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM)

109. ĐH Sư phạm Đà Nẵng

108. ĐH Ngoại ngữ – ĐHQG Hà Nội

107. ĐH Sư phạm TP.HCM

106. CĐ Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long

105. ĐH Thương mại

104. ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM (Khối C)

103. CĐ Kỹ thuật Cao Thắng

102. ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM)

101. ĐH Đồng Nai

100. CĐ Cộng đồng Đồng Tháp

99. ĐH Trà Vinh

98. ĐH Kiến trúc Hà Nội

97. CĐ Thống kê

96. CĐ Y tế Thái Nguyên

95. CĐ Sư phạm Cà Mau

94. CĐ Văn hóa nghệ thuật và du lịch Hạ Long

93. CĐ Công nghệ thông tin TP.HCM

92. ĐH Văn hóa Hà Nội

91. ĐH Điều dưỡng Nam Định

90. ĐH Lâm nghiệp (Cơ sở 2)

89. ĐH Lâm nghiệp

88. ĐH Tây Đô

87. ĐH Sao Đỏ

86. CĐ Kinh tế Kỹ thuật miền Nam

85. CĐ Công nghiệp Phúc Yên

84. ĐH Phòng cháy chữa cháy (phía nam)

83. ĐH Phòng cháy chữa cháy (phía bắc)

82. ĐH Sư phạm thể dục thể thao TP.HCM

81. ĐH Nha Trang (dự thi tại Bắc Ninh)

80. ĐH Nha Trang (dự thi tại Nha Trang)

79. ĐH Nha Trang (dự thi tại Cần Thơ)

78. ĐH Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM)

77. ĐH Thể dục thể thao TP.HCM

76. ĐH Kinh tế (ĐH Đà Nẵng) (khối A1)

75. ĐH Kinh tế (ĐH Đà Nẵng) (khối A)

74. ĐH Bách khoa (ĐH Đà Nẵng) (khối V)

73. ĐH Bách khoa (ĐH Đà Nẵng) (khối A)

72. CĐ Xây dựng công trình đô thị

71. ĐH Điện lực

70. ĐH Quy Nhơn

69. ĐH Y tế công cộng

68. ĐH Sài Gòn

67. ĐH Bách khoa Hà Nội

66. Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông (Cơ sở 2)

65. Học viện Tài chính

64. ĐH Hải Phòng

63. ĐH Công nghệ Đồng Nai

62. ĐH Ngoại thương (Cơ sở 2)

61. ĐH Giao thông Vận tải TP.HCM

60. ĐH Nguyễn Tất Thành

59. ĐH Quốc tế Hồng Bàng

58. ĐH Xây dựng

57. CĐ Công nghiệp và Xây dựng

56. ĐH Đồng Tháp

55. ĐH Tây nguyên

54. ĐH Cần Thơ

53. ĐH Xây dựng

52. CĐ Hàng hải

51. CĐ Kinh tế Kỹ thuật Phú Thọ

50. CĐ Nông nghiệp Nam Bộ (Tiền Giang)

49. ĐH Y Dược Cần Thơ

48. ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM)

47. ĐH Tài chính – Quản trị kinh doanh

46. ĐH Hùng Vương (Phú Thọ)

45. ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM)

44. ĐH Kiến trúc TP.HCM

43. Học viện Kỹ thuật Mật mã

42. Học viện Bưu chính viễn thông

41. ĐH Ngoại thương

40. ĐH Kinh Bắc

39. ĐH Luật TP.HCM

38. ĐH Phạm Văn Đồng

37. ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương

36. ĐH Đà Lạt

35. ĐH Công nghiệp Việt – Hung

34. ĐH Công nghiệp Việt Trì

33. ĐH Xây dựng miền Trung

32. ĐH Hàng Hải

31. ĐH Công nghiệp Quảng Ninh

30. ĐH An Giang

29. Học viện Chính sách và phát triển

28. ĐH Tài chính – Ngân hàng Hà Nội

27. ĐH Hồng Đức

26. ĐH Ngân hàng TP.HCM

25. Học viện Y học cổ truyền VN

24. CĐ Viễn Đông

23. ĐH Tiền Giang

22. Học viện Âm nhạc Huế

21. ĐH Thủ Dầu Một

20. ĐH Giao thông vận tải (cơ sở 2)

19. ĐH Giao thông vận tải

18. ĐH Dược Hà Nội

17. ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội)

16. ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội)

15. ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội)

14. ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội)

13. ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia Hà Nội)

12. Khoa Luật (ĐH Quốc gia Hà Nội)

11. Khoa Y (ĐH Quốc gia Hà Nội)

10. ĐH Tài chính kế toán

9. ĐH Tài chính – Marketing TP.HCM

8. ĐH Quảng Nam

7. ĐH dân lập Hải Phòng

6. ĐH Công nghệ Giao thông vận tải

5. ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM

4. ĐH Thăng Long

3. ĐH Xây dựng Miền Tây

2. ĐH Thủy lợi (cơ sở 2)

1. ĐH Thủy lợi

Hoàng Quyên

>> Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM công bố điểm thi

>> ĐH Sư phạm Đà Nẵng công bố điểm thi khối A, A1 và C

>> Thêm nhiều trường đại học, cao đẳng công bố điểm thi

>> ĐH Bách khoa Đà Nẵng, ĐH Kinh tế Đà Nẵng công bố điểm thi

>> Thêm hàng loạt trường ĐH-CĐ công bố điểm thi

>> Nhiều trường công bố điểm thi, điểm chuẩn dự kiến

Từ khoá: nông nghiệp giao thông kinh doanh môi trường công nghệ kỹ thuật kinh tế quốc tế xây dựng học viên gia đà nẵng khoa học công nghệ thông tin thông tin quân đội phòng cháy chữa cháy tài chính

Không dừng thí điểm bảo hiểm nông nghiệp

VOV.VN -Theo Bộ Tài chính, qua thực tiễn thí điểm, kết quả đạt được tương đối tốt và có nhiều ý kiến đề xuất đưa ra thực hiện đại trà.

Liên quan đến thông tin liệu có dừng thí điểm bảo hiểm nông nghiệp hay không, đại diện Bộ Tài chính khẳng định: Vẫn tiếp tục chương trình này, vì qua thực tiễn thí điểm, kết quả đạt được tương đối tốt và có nhiều ý kiến đề xuất đưa ra thực hiện đại trà.

Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp về cây trồng, vật nuôi và thủy sản theo Quyết định 315 của Thủ tướng Chính phủ đã được triển khai ở nhiều địa phương trong hơn 1 năm qua.

Từ đầu năm 2013, Bộ Tài chính đã có văn bản chỉ đạo các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bồi thường, phù hợp với quy định và pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua, phát sinh một số lượng lớn hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại vào cùng một thời điểm. Một số trường hợp chưa bồi thường kịp thời do hồ sơ chưa đáp ứng được yêu cầu xác định nguyên nhân, mức độ tổn thất…

Nhiều ý kiến lo ngại về hiệu quả và tính khả thi của bảo hiểm nông nghiệp. Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Minh khẳng định, bảo hiểm nông nghiệp đang bước đầu phát huy hiệu quả và vẫn tiếp tục được triển khai rộng rãi.

Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chủ trì và phối hợp với các địa phương triển khai chương trình và có báo cáo Chính phủ cụ thể về vấn đề này.

Theo Ban Chỉ đạo thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp, tính đến tháng 5 vừa qua, đã có hơn 234 nghìn hộ dân tham gia ký hợp đồng bảo hiểm (trong đó có hơn 80% là hộ nghèo), với giá trị bảo hiểm cây trồng, vật nuôi và thủy sản là 5 nghìn tỷ đồng./.

Từ khoá: bão triển khai thí điểm bảo hiểm bồi thường thiệt hại bảo hiểm nông nghiệp bộ tài chính tài chính doanh nghiệp bảo hiểm mức độ tổn thất nông nghiệp hợp đồng bảo hiểm giá trị bảo hiểm bảo hiểm đồng bảo hiểm thí điểm yêu cầu bồi thường hồ sơ yêu cầu bồi thường