Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèo

Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèoĐào tạo nghề tại Trường nghề CĐ. Ảnh: Kỳ Anh

Thường vụ Quốc hội thảo luận dự thảo Luật Việc làm:

Liệt kê hàng loạt các khoản mà một người lao động phải nộp trong lương, nào là thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, rồi giờ lại thêm bảo hiểm thất nghiệp, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước lo lắng: “Không khéo nhìn tổng lương có thể thu nhập mức trung bình, nhưng thu xong lại đẩy họ vào nhóm nghèo trong xã hội”. Ông đề nghị phải quy định “tỉ lệ phần trăm tối đa trong phần lương phải đóng góp”.

5 dự án nhưng chỉ 1 cái giếng

Vừa đi giám sát về dạy nghề cho lao động thiểu số, tiếp xúc với DN, người lao động, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước phản ánh tình trạng có quá nhiều trung tâm dạy nghề, đang phổ biến tình trạng “dạy trùng nghề, dạy nghề tràn lan”, trong khi lương trả cho bộ máy dạy nghề cũng từ ngân sách nhà nước. Tình trạng trùng lặp được Chủ tịch Hội đồng Dân tộc mô tả bằng hình ảnh “qua giám sát, 1 cái giếng thuộc 5 dự án, nhưng trên thực địa chỉ có 1 cái giếng”. Hay “một còn bò, thuộc rất nhiều dự án”.

Ông Phước đặt ra 2 vấn đề: Các DN cần được khyến khích, nhưng “nếu khuyến khích tràn lan thì sẽ mất hết. Trong khi bản chất của dạy nghề thì “dịch vụ rất nhiều trong khi hỗ trợ thì không rõ nét”.

Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính cũng băn khoăn về quy định hỗ trợ DN đào tạo nâng cao kỹ năng nghề vì lý do suy thoái kinh tế. Theo ông, hiện có hàng chục ngàn DN ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế. Nếu chúng ta hỗ trợ thế này thì Quỹ thất nghiệp chưa chắc đã đảm bảo được. Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN đề xuất: “Cần có cơ chế kiểm tra giám sát để tránh việc lạm dụng sự hỗ trợ này”.

Về vấn đề chi trả, hỗ trợ người lao động thất nghiệp, theo ông Chính, các huyện đều có cơ quan BHXH và nên để họ chi trả, vừa giảm thủ tục hành chính, vừa đỡ cho người lao động “phải đi rất xa đến cơ quan BHXH”.

Có thể mang quỹ quốc gia đi đầu tư?

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của QH Phùng Quốc Hiển phân tích, trong dự thảo luật có rất nhiều quy định sự hỗ trợ, với rất nhiều đối tượng từ thanh niên đến người nghèo. Chẳng hạn đối tượng “thanh niên”, hằng năm có tới 1,6 triệu người được “bổ sung” vào diện “thanh niên”. Ông đặt câu hỏi “nhưng như thế, ngân sách nhà nước phải đảm đương bao nhiêu hằng năm?”.

Liên quan đến việc sử dụng Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, thống nhất với quan điểm ngoài việc đóng góp thì quỹ cần phải sinh lời, thậm chí “việc gửi tiền vào các ngân hàng để sinh lời thì thôi cũng được”, tuy nhiên Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách lo lắng việc cho phép đầu tư vào các công trình “do Chính phủ quy định” hay cho vay, thì cần lưu ý. Cho vay dưới hình thức nào? Cho vay phát hành tín phiếu, trái phiếu có được không? Nếu mở rộng quá sẽ không đảm bảo an toàn của quỹ. Thực tế, nhiều khoản đầu tư không hiệu quả đâu – ông nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Phan Trung Lý thì đặt vấn đề với quy định hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp giao cho Bộ LĐTBXH quy định. “Vì sao lại không quy định trong luật? – ông Lý đặt câu hỏi, đồng thời khẳng định, vấn đề này cần minh bạch”. Ông cũng chỉ ra: Luật Việc làm có 21/63 điều, tức 1/3 số điều giao Chính phủ quy định là quá lớn, cần xem lại vì đây là những điều liên quan trực tiếp đến người lao động.

Dự kiến, dự thảo Luật Việc làm sẽ được đưa ra QH vào kỳ họp thứ sáu.

“Doanh nghiệp dịch vụ việc làm hoạt động theo Luật DN, nhưng thực tế có lúc chúng ta không kiểm soát được. Nhiều trường hợp đối tượng trước chúng ta gọi là “cò” đến Sở KHĐT xin cấp phép, xin quỹ và những doanh nghiệp như thế một ngày tìm được 100 lao động thôi đã kiếm được 2 triệu bạc. Vì vậy, cần phải tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực này” – Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính nói.

Từ khoá: bảo hiểm thất nghiệp thủ tục hành chính bão bảo hiểm xã hội người lao động thanh niên dự thảo quy định nhà nước việc làm luật việc làm quản lý nhà nước lao động suy thoái kinh tế bảo hiểm

2012 đứng thứ tám trong 10 năm nóng nhất từ 1880

Hội Khí tượng học Mỹ vừa công bố báo cáo thường niên mang tên “Tình trạng khí hậu” cho biết năm 2012 vừa qua là một trong 10 năm có nhiệt độ mặt đất và bề mặt đại dương cao kỷ lục.

Báo cáo do các nhà nghiên cứu của Cơ quan Khí quyển đại dương quốc gia Mỹ (NOAA) soạn thảo, có sự tham gia của các chuyên gia về khí tượng học từ nhiều nước, cho biết năm 2012 đứng thứ 8 trong 10 năm nóng nhất trên Trái Đất kể từ năm 1880, khi các dữ liệu nhiệt độ toàn cầu bắt đầu được ghi chép.

Theo đó, nhiệt độ toàn cầu năm 2012 cao hơn từ 0,14-0,17 độ C so với nhiệt độ trung bình của các năm trong giai đoạn từ 1981-2010. Đây cũng là năm Mỹ và Argentina ghi nhận nhiệt độ cao nhất từ trước tới nay.

Ngoài tình trạng nhiệt độ tăng cao, năm 2012 đánh dấu nhiều sự biến đổi dẫn tới thời tiết cực đoan, như lượng khí thải cácbon, mực nước biển, lượng băng tan tại Bắc Cực… đều ở mức kỷ lục, và tất cả những dấu hiệu này khiến toàn bộ hành tinh ấm dần lên.

Nhiệt độ bề mặt tại Bắc Cực đã tăng với tốc độ nhanh gấp hai lần so với các nơi khác của thế giới, khiến lượng băng tan lớn hơn bao giờ hết.

Điều này góp phần đẩy mực nước biển dâng cao kỷ lục, cao hơn 3,5cm so với mức nước biển trung bình từ năm 1993-2010. Cụ thể, mực nước biển đã tăng trung bình khoảng 3,2mm mỗi năm trong hơn 2 thập kỷ qua.

Báo cáo cũng cho biết tiếp tục xu hướng bắt đầu từ năm 2004, độ mặn của các đại dương ở những khu vực có tỷ lệ nước bốc hơi cao cũng cao hơn mức trung bình, như vùng nhiệt đới trung tâm ở Bắc Thái Bình Dương, trong khi tại các khu vực có mưa, như vùng Bắc Ấn Độ Dương, nước biển lại nhạt hơn.

Năm 2012 cũng ghi nhận hiện tượng lượng mưa ngày càng tăng ở những những khu vực vốn mưa nhiều, còn những vùng khô hơn lại ít mưa, và tốc độ bay hơi của nước biển cũng mạnh hơn.

Đề cập đến khí thải gây hiệu ứng nhà kính (chủ yếu gồm điôxít cácbon và mêtan), báo cáo cho biết lượng khí thải và mật độ loại khí thải này trong không khí đều tiếp tục tăng trong năm 2012.

Sau khi giảm nhẹ do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, lượng khí thải điôxít cácbon từ quá trình đốt cháy năng lượng hóa thạch và sản xuất ximăng lên tới 9,7 tỷ tấn, vượt qua cả mức kỷ lục của năm 2011.

Hạn hán và mưa trái mùa cũng đã ảnh hưởng đến nhiều khu vực trên toàn cầu trong năm ngoái, như Đông Bắc Brazil hứng chịu đợt hạn hán tồi tệ nhất trong hơn 3 thập kỷ.

Trong khi đó, khu vực Caribe trải qua mùa khô ẩm ướt nhất trong năm 2012, còn khu vực Sahel của châu Phi ghi nhận mùa mưa có lượng mưa lớn nhất trong vòng 50 năm qua.

Đây là lần thứ 23 Hội khí tượng học Mỹ công bố báo cáo này, và đây cũng được xem là báo cáo đầy đủ nhất về tình trạng khí hậu toàn cầu./.

(TTXVN)

Từ khoá: bão suy thoái kinh tế toàn cầu gia

Quảng cáo trực tuyến: Cú chuyển hướng lịch sử của P&G

“Đại gia” hàng tiêu dùng Procter & Gamble (P&G) hiện đang dành hơn 1/3 ngân sách quảng bá sản phẩm tại Mỹ để quảng cáo trực tuyến. Theo tờ Wall Street Journal, đây là một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong bối cảnh, 2013 được dự báo sẽ là năm đầu tiên trong lịch sử người Mỹ dành nhiều thời gian trên mạng hơn xem truyền hình.

CEO A.G. Lafley của P&G cho biết, chi cho hoạt động quảng bá sản phẩm trên truyền thông kỹ thuật số như quảng cáo trực tuyến và trên các mạng xã hội hiện chiếm 25-35% tổng ngân sách quảng cáo của hãng. Riêng tại Mỹ, thị trường lớn nhất của P&G, thì mức chi đã đạt tới gần cận trên của khoảng dao động được đề cập.

Như vậy, tỷ lệ chi cho quảng cáo trực tuyến của P&G đã vượt mức trung bình ước tính vào khoảng 20-25% so với tổng ngân sách quảng cáo như thường thấy ở các công ty nói chung.

Con số này cũng cho thấy rõ nét mối đe dọa mà quảng cáo trực tuyến gây ra cho các dạng quảng cáo truyền thống như quảng cáo trên báo in.

P&G dự kiến chi nhiều hơn cho quảng cáo trong tài khóa hiện tại. Việc hãng này ngày càng nhấn mạnh vào quảng cáo trực tuyến phản ánh xu hướng dịch chuyển về phía Internet của người tiêu dùng, đồng thời cũng là mong muốn của công ty muốn cải thiện hiệu quả của những khoản tiền chi ra cho quảng cáo.

Các nhà điều hành của P&G nói rằng, trong nhiều trường hợp, truyền thông trên các phương tiện kỹ thuật số là cách nhanh hơn và rẻ hơn để các thương hiệu của hãng tiếp cận với người tiêu dùng, và cũng để nhận được phản hồi nhanh hơn từ phía khách hàng.

“Tóm lại, chúng tôi cần và muốn có mặt ở nơi mà có người tiêu dùng ở đó. Người tiêu dùng thì đang đến ngày càng nhiều hơn với Internet và di động”, một phát ngôn viên của P&G nói.

Ông Lafley mới một lần nữa nhậm chức CEO tại P&G. Ông từng giữ cương vị này trong thời gian từ năm 2000-2009. Việc ông Lafley trở lại ghế CEO diễn ra trong bối cảnh P&G chứng kiến lợi nhuận quý 2 giảm 48% so với cùng kỳ năm ngoái, còn 1,9 tỷ USD, do chi phí tái cơ cấu và một số chi phí khác. Doanh thu của hãng trong quý tăng nhẹ lên 20,7 tỷ USD.

Hoạt động kinh doanh của P&G được phát triển trên cơ sở nghiên cứu sâu về người tiêu dùng và những sản phẩm chất lượng được quảng cáo rộng rãi như bột giặt Tide, kem dưỡng da Olay… mà chủ yếu là quảng cáo trên truyền hình. Nhưng nền tảng đó đang có sự thay đổi. Suy thoái kinh tế đã khiến người tiêu dùng trở nên tiết kiệm hơn, và hiện có rất nhiều cách để gây ảnh hưởng tới người tiêu dùng thông qua Internet và công nghệ di động.

Theo hãng nghiên cứu eMarketer, thời gian trung bình mà người tiêu dùng Mỹ dành cho truyền thông kỹ thuật số có thể lần đầu tiên vượt thời gian xem truyền hình trong năm nay. Hãng này ước tính, mỗi người trưởng thành bình thường ở Mỹ sẽ dành khoảng 5 giờ mỗi ngày trên mạng thông qua các thiết bị di động hoặc thiết bị khác trong năm nay. Ngược lại, thời gian xem TV của người đó sẽ chỉ còn 4 giờ và 31 phút mỗi ngày.

Dữ liệu từ các công ty nghiên cứu hàng đầu cho thấy, năm ngoái, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói ở Mỹ chi khoảng 13,4 tỷ USD cho quảng cáo. Trong đó, 22,2% được chi cho quảng cáo trên truyền thông kỹ thuật số. Năm 2011, tỷ lệ này là 19,3%.

Hiện P&G chưa đưa ra con số cụ thể về mức chi quảng cáo trong năm tài khóa vừa kết thúc mới đấy của hãng. Trong tài khóa vừa rồi, doanh thu của P&G vượt 84 tỷ USD.

Trong tài khóa 2012, P&G chi 9,3 tỷ USD cho quảng cáo, bao gồm quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh, báo in, Internet, và quảng cáo tại các cửa hiệu. Bắc Mỹ là thị trường đóng góp 1/3 doanh thu của P&G, và cũng là thị trường mà hãng này chi nhiều nhất cho quảng cáo.

CEO Lafley cho biết, chi quảng cáo trên mạng của P&G khác nhau đối với từng sản phẩm. Theo CEO này, đối với một số mảng sản phẩm, “quảng cáo trên truyền thông kỹ thuật số hiệu quả đến mức khó tin, và chúng tôi sẽ sử dụng hình thức này nhiều hơn”. Tã giấy Pampers, lăn khử mùi Secret, và các sản phẩm chăm sóc cá nhân cho nam giới là một vài trong số những sản phẩm mà P&G lấy quảng cáo trực tuyến làm trọng tâm.

Việc P&G tăng cường quảng cáo trực tuyến diễn ra trong lúc loại hình quảng cáo này ngày càng “lấn sân” quảng cáo truyền hình. Chi quảng cáo trên các phương tiện truyền thông kỹ thuật số ở Mỹ năm nay được dự báo tăng 14%, đạt mức 41,9 tỷ USD, trong khi chi cho quảng cáo truyền hình có thể chỉ tăng 3%, đạt mức 66,4 tỷ USD – theo eMarketer.

Các thiết bị di động là đối tượng hưởng lợi lớn nhất trong xu hướng dịch chuyển sự chú ý này của người Mỹ.

Người trưởng thành ở nước này được eMarketer dự báo sẽ dành bình quân 2 giờ 21 phút mỗi ngày trên các thiết bị như điện thoại thông minh và máy tính bảng để làm những việc không phải là gọi điện. Khoảng thời gian này dài hơn thời gian mà họ lên mạng bằng máy tính để bàn và máy tính xách tay, đồng thời tăng gần nửa giờ đồng hồ so với thời gian họ dành cho các thiết bị di động trong năm 2012.

Từ khoá: tiêu dùng doanh thu thị trường máy tính bảng sản phẩm mạng xã hội máy tính xách tay quảng cáo bão suy thoái kinh tế kỹ thuật máy tính để bàn công ty người tiêu dùng nghiên cứu thiết bị trực tuyến máy tính

Có doanh nghiệp là có tổ chức công đoàn

Có doanh nghiệp là có tổ chức công đoànLãnh đạo Cty may veton Shonai Phú Thọ (áo trắng bên trái) cùng lãnh đạo LĐLĐ tỉnh kiểm tra chất lượng bữa ăn ca.

LĐLĐ Phú Thọ đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS:

Những năm gần đây, LĐLĐ tỉnh Phú Thọ là một trong số ít tổ chức CĐ luôn dẫn đầu về công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS.

Cách làm của Phú Thọ đơn giản nhưng sát thực tế là bám sát khối DN để phát triển, vì các khối khác đã tương đối ổn định. Nhờ đó, họ đã và đang đạt được những kết quả đáng ghi nhận để thực hiện mục tiêu “Có doanh nghiệp là có tổ chức công đoàn”.

Một số cơ quan chức năng vào cuộc

Ngay sau Đại hội Công đoàn tỉnh, chương trình phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS nhiệm kỳ 2013-2018 đã được LĐLĐ tỉnh lập và thông qua. Ban chỉ đạo và tổ công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS được thành lập. Điểm đáng chú ý là Ban chỉ đạo phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS cấp tỉnh có sự tham gia của lãnh đạo các sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, LĐTBXH, Cục Thuế và Ban quản lý các KCN tỉnh. Ở cấp huyện, Ban chỉ đạo cũng được thành lập với thành phần tương tự ở cấp dưới.

Theo quan điểm của Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Nguyễn Thị Thanh Huyền, thì đó là cách làm hoàn toàn đúng đắn. Một mình tổ chức CĐ thì không thể làm việc hiệu quả. Sự vào cuộc của một số cơ quan chức năng kể trên giúp các cấp CĐ Phú Thọ có thêm sức mạnh đáng kể. Ví dụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư nắm rõ nội dung đăng ký kinh doanh, thành lập DN mới trên địa bàn, nên đây là kênh thông tin quan trọng để Ban chỉ đạo nắm bắt, triển khai công việc một cách chủ động.

Bên cạnh đó, một số cơ quan chức năng tham gia Ban chỉ đạo sẽ giúp tổ chức CĐ có thêm sức mạnh từ sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước. Hiện các DN trước khi được cấp phép kinh doanh đều phải cam kết thành lập CĐCS khi có đủ điều kiện. Và đó chính là thắng lợi ban đầu của Ban chỉ đạo.

Kiện toàn tổ chức hoạt động

Thống kê từ LĐLĐ tỉnh cho thấy, từ đầu năm đến nay, Phú Thọ đã thành lập mới 12 CĐCS và kết nạp 1.673 đoàn viên CĐ. Con số này chưa thật lớn, nhưng so với nhiệm kỳ trước (cả nhiệm kỳ thành lập mới 60 CĐCS) thì vẫn cao hơn rất nhiều, đặc biệt trong giai đoạn các DN vẫn phải đối mặt với suy thoái kinh tế.

Các CĐCS thành lập mới đều là DN ngoài nhà nước. Có DN đông tới hàng nghìn CN (như Cty TNHH ES&S Phú Thọ), nhưng cũng có DN chỉ có 5 – 10 đoàn viên (như Cty TNHH Tiems chỉ có 5 đoàn viên, Cty TNHH ĐT-KD khoáng sản Việt chỉ có 10 đoàn viên). Điều đó cho thấy LĐLĐ tỉnh đã bám cơ sở, tăng cường vận động các DN thành lập CĐCS, không phân biệt DN lớn hay nhỏ để mở rộng diện “bao phủ” tổ chức CĐ tới tất cả mọi nơi có NLĐ đang làm việc.

Anh Phùng Quang Vinh -Trưởng ban tổ chức LĐLĐ tỉnh Phú Thọ – cho biết thêm, đó chính là cách làm mà Phú Thọ luôn duy trì để tạo ảnh hưởng rộng khắp của tổ chức CĐ và chỉ có thể mở rộng như vậy mới nắm bắt tốt nhất tình hình mọi mặt của NLĐ để có biện pháp trợ giúp họ. Điểm quan trọng nữa mà anh Phùng Quang Vinh nhấn mạnh là ngay sau khi thành lập, CĐCS phải được kiện toàn tổ chức và triển khai hoạt động để ngay lập tức khẳng định sự có mặt của tổ chức CĐ ở DN.

Chị Vi Thị Thu Hà – Chủ tịch CĐ Cty ITV JC Vina – phấn khởi thông báo, CĐ Cty mới thành lập (có 166 đoàn viên), nhờ sự giúp đỡ của LĐLĐ tỉnh nên đã xây dựng được kế hoạch hoạt động cụ thể, được chuyên môn đồng ý hỗ trợ và hưởng ứng nên chắc chắn từ nay đến cuối năm sẽ nỗ lực hoạt động hiệu quả.

Còn anh Nguyễn Xuân Hoàn – Chủ tịch CĐ Đại siêu thị BigC Việt Trì – khẳng định, CĐCS đơn vị anh mới chuẩn bị làm lễ ra mắt, nhưng mọi công việc chuẩn bị từ tổ chức cán bộ cho tới chương trình, kế hoạch hoạt động đều đã được hoàn tất. Đó chính là sự chủ động mà LĐLĐ tỉnh đã giúp đơn vị, bởi tất cả CBCĐ chúng tôi đều mới nên nhiều việc còn chưa thạo – anh Hoàn vui vẻ nói thêm.

Nhiệm vụ tiếp theo của các cấp CĐ ở Phú Thọ là phải tăng cường vận động CNLĐ chưa là đoàn viên sẽ gia nhập và tham gia hoạt động CĐ. Một số DN có số lượng CN rất lớn, nhưng tỉ lệ đoàn viên CĐ chưa cao. Bên cạnh đó, phải giúp CĐCS lựa chọn những nội dung hoạt động phù hợp với tình hình thực tế của DN để khẳng định chỗ đứng và uy tín trước khi tiến hành Đại hội CĐCS.

Từ khoá: đầu tư tài chính suy thoái kinh tế cơ quan quản lý nhà nước quản lý nhà nước gia phát triển kế hoạch

Dự thảo cơ cấu giá điện: Băn khoăn lợi ích nhóm

(DĐDN) – Bộ Công Thương vừa đưa ra Dự thảo cơ cấu giá điện, trong đó có biểu giá điện riêng cho ngành thép và xi măng cao hơn các ngành sản xuất khác. Đứng trước thông tin trên, các ngành đều khá quyết liệt đưa ra quan điểm để bảo vệ lợi ích của mình. Câu chuyện tranh cãi của các nhóm lợi ích đã chính thức được thể hiện rõ.

bankhoanloiich11a1-01559.jpg

Có thể một bộ phận DN sẽ phải tốn kém thêm chi phí cho hoạt động sản xuất,

nhưng về lâu dài sẽ là góp phần sàng lọc công nghệ sản xuất ở Việt Nam, loại bỏ những công nghệ lạc hậu

Cả ba ngành công nghiệp trên đều có thể được coi là “bánh mì” của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều mà người dân và cộng đồng DN quan tâm là “bánh mì” được sản xuất và bán ra sao? để họ có thể mua được với chất lượng ổn định, giá cả hợp lí và không phải bù lỗ (bằng tiền thuế) một cách vô lí.

Điện tăng giá – tất yếu

Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy, sản xuất của ngành thép và xi măng chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng sản lượng điện thương phẩm: năm 2011 tiêu thụ điện của 2 ngành sắt thép và xi măng là 5,7 tỉ kWh chiếm 11,6%, năm 2012 là 5,6 tỉ kWh chiếm 11,4%, 6 tháng đầu năm 2013 tiêu thụ 2,6 tỉ kWh và dự báo năm 2013 giảm xuống khoảng 10%. Với giá bán điện bình quân cho DN thép, thép hộp mạ kẽm xi măng là 914 đồng/KWh, EVN đã phải bù lỗ khoảng hơn 2.500 tỉ đồng mỗi năm cho ngành thép, xi măng.

Việc ngân sách nhà nước phải bù lỗ cho một ngành hàng nào đó thường để nhằm vào các mục đích như hỗ trợ ngành sản xuất nội địa phát triển hoặc sản xuất những mặt hàng thiết yếu… Tuy nhiên, nếu bù lỗ để ngành đó sản xuất hàng xuất khẩu hoặc dư thừa nhu cầu nội địa thì chẳng khác nào “vứt tiền qua cửa sổ”.

Trên thực tế, một số sản phẩm như phôi thép vuông, thép xây dựng hiện vượt 1,5 đến 2 lần so với nhu cầu sử dụng. Các sản phẩm thép như cán nguội, ống thép, tôn mạ đều có dấu hiệu dư thừa. Đại diện Bộ Công Thương nhận xét, ngành thép còn bộc lộ một số tồn tại như chưa cân đối nhu cầu sản phẩm. Một số sản phẩm cung vượt xa so với cầu, nhưng có nhiều sản phẩm vẫn phải nhập khẩu. Đa số các DN sản xuất thép với quy mô công suất nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu và chưa thân thiện với môi trường. Còn theo quy hoạch ngành xi măng, đến năm 2015 tổng công suất đạt 75 triệu tấn và dư thừa khoảng 10 triệu tấn so với nhu cầu.

Lí giải cho hiện tượng nơi thừa nơi thiếu, ông Nguyễn Tiến Nghi – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép VN (VSA) cho rằng, thời gian qua nhiều địa phương đã cấp phép cho một số nhà máy thép không theo quy hoạch. Cho dù khá muộn màng, nhưng lãnh đạo Vụ Công nghiệp nặng đã đưa ra thông điệp, từ năm 2013 trở đi, Bộ Công Thương sẽ không cấp phép cho các dự án mới với công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và phải chấp nhận một thực tế là DN nào năng lực cạnh tranh thấp sẽ phải phá sản.

Một lo ngại khác của ngành điện là giá điện bán thấp khiến nhiều nhà đầu tư bỏ chạy. Hiện nay, giá bình quân của khu vực là 10 cent/kWh, còn VN là 7 cent/kWh. Vì giá điện rẻ, nhiều dự án BOT đầu tư vào VN đã bỏ. Ngành điện thì đang lỗ nên cũng không có tiền để đầu tư (nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW đầu tư đến 1,7 tỷ USD). Ngân sách không thể oằn mình nuôi một ngành nào mãi được, ngay cả ngành điện.

Vòng luẩn quẩn

Theo ông Nghi, giai đoạn hiện nay ngành thép đang rất khó khăn, sức tiêu thụ nội địa đang rất chậm. Nếu giá điện tăng sẽ làm tăng thêm đầu vào của thép và xi măng mà đầu ra không tăng, thậm chí còn giảm, sẽ đẩy nhiều DN vào thế khốn cùng. Cụ thể, tính đến 30/6/2013 lượng tồn kho đối với sản phẩm thép xây dựng ước khoảng 327.000 tấn và lượng phôi thép tồn ước chừng khoảng 500.000 tấn. Rất nhiều DN ngành thép đã phải đóng cửa, ảnh hưởng tiêu cực tới an sinh khu vực. Ông Lại Quang Trung – Phó tổng Giám đốc Cty Thép Việt – Úc cho biết, chỉ riêng ở Hải Phòng hiện có 4 DN luyện thép công suất 1 triệu tấn phải đóng cửa, 3 DN cán thép công suất 60 ngàn tấn cũng đã dừng hoạt động. Hệ lụy là 2.000 lao động không có việc làm và để giải quyết việc này thì cần phải có 30.000 tỷ đồng để khôi phục việc làm cho họ.

Được coi là “bánh mỳ ngành xây dựng” nhưng từ năm 2010 đến nay, ngành xi măng liên tục xuống dốc. Từ việc ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới đến việc Chính phủ buộc phải thắt chặt đầu tư công, kiềm chế lạm phát rồi bất động sản đóng băng, tất cả những điều trên đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành xi măng. Ông Nguyễn Văn Thiện – Chủ tịch Hiệp hội Xi măng VN cho biết, giá xi măng nước ta so với các nước khu vực đã ở mức thấp nhất. Rất nhiều DN ngành xi măng đang thua lỗ nặng phải phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động.

Cũng theo ông Thiện, tại VN, điện chiếm 15% – 17% trong giá thành xi măng. Giá điện tăng sẽ khiến đầu vào xi măng tăng. Tuy nhiên, giá xi măng vào thời điểm này không thể nâng được. DN xi măng và thép đòi được bình đẳng giá điện như các ngành sản xuất khác. Còn nói như ông Nguyễn Tiến Nghi, ngành thép và xi măng cần tăng giá điện theo một lộ trình thích hợp giúp các DN từng bước thích nghi dần, đặc biệt tron giai đoạn khó khăn hiện nay.

Tuy nhiên, đại diện EVN cho biết, chính sách giá điện Việt Nam là giá điện sinh hoạt được ưu tiên nên tăng thấp, giá điện sản xuất, dịch vụ cao hơn, nhưng đó là cấp hạ áp. Còn xi măng, thép, những ngành tiêu hao điện tốn nhất thì lại dùng cấp cao áp 110kV và theo cấp điện áp này, giá lại rất rẻ.

“Cơ hội khác thường” để đổi mới công nghệ ?

Theo ông Bùi Quang Chuyện – Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công thương), dù muốn hay không giá điện cũng phải tăng. Tăng giá điện cũng là một yếu tố để 2 ngành thép và xi măng phải đổi mới công nghệ. Với đà tăng giá năng lượng và nhiện liệu thế giới như hiện nay, đến năm 2020, các DN công nghệ lạc hậu không thay đổi thì sẽ phải tự phá sản vì giá thành không thể cạnh tranh được.

Theo tính toán của ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng VN (VEA), giá điện trong tương lai sẽ có thể tăng từ 6.200 đồng/kWh, thậm chí lên 8.000 – 9.000 đồng/kWh. Nếu không đổi mới công nghệ, trang thiết bị, DN sẽ phải đón nhận hậu quả rất nặng. Ngành điện đang lỗ rất lớn, không đủ tiền để trả cho các ngành khác. Nếu cứ mỗi lần tăng 1% – 5% giá bán điện thì không thấm vào đâu.

Việc tăng giá điện ở những ngành sản xuất khác trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay cần xem xét áp dụng ở thời điểm nào là hợp lý.

Về phía mình, đại diện hai ngành xi măng và thép lại cho rằng mình đang tích cực đổi mới công nghệ. Ông Nguyễn Văn Thiện cho rằng, công nghệ ngành xi măng là công nghệ hiện đại, không tiêu tốn năng lượng. Theo ông Thiện, cuối năm 2013 tổng công suất đạt 70 triệu tấn xi măng, trong đó 68,5 tấn được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến. Đến năm 2015, tất cả dự án xi măng có thiết bị tận dụng nhiệt khí thải, nhà máy xi măng sẽ tự sản xuất khoảng 15% lượng điện tiêu thụ. Mức tiêu hao điện của xi măng khoảng 90-100 kwh/tấn. Theo ông Thiện, đây là mức tiêu thụ tiêu hao trung bình so với các nước trên thế giới.

Còn ông Nguyễn Tiến Nghi thì cho biết, từ 2005 đến nay, các nhà đầu tư ngành thép đã chọn lựa những công nghệ thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn. Thực tế, ngành thép VN so với các nước trong khu vực đều không thua kém. Gần đây nhiều công nghệ còn tiên tiến hơn các nước khu vực. Lượng tiêu thụ điện của thép là 450 – 500 kWh/tấn sản phẩm, đây là mức tiêu hao năng lượng tiên tiến so với các nước Đông Nam Á.Chính vì vậy, đại diện Hiệp hội Năng lượng vẫn khuyến cáo, tỷ lệ tiêu hao điện của ngành thép và xi măng tương đối cao. Ngoài việc tích cực đổi mới công nghệ, tái cơ cấu, hai ngành trên cần đặc biệt chú trọng tiết kiệm năng lượng. Ngành thép hay xi măng liệu có phải là ngành ưu tiên phát triển để xuất khẩu? Cơ cấu ở mức phát triển phù hợp đối với hai ngành này cũng là vấn đề cần phải tính đến cho mục tiêu phát triển lâu dài.

Mặc dù, đại diện của cả hai ngành đều khẳng định đang tích cực đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, ông Trần Viết Ngãi vẫn cho rằng, 2 ngành trên cần sớm đổi mới công nghệ hơn nữa, cơ cấu lại sản xuất và lựa chọn công nghệ như thế nào để tiêu hao điện năng hiệu quả nhất. Ngành điện nói riêng và ngành năng lượng nói chung cần có quy hoạch lớn để chuẩn bị đón đầu cho việc nhập khẩu nhiên liệu như than, khí, và tăng giá điện.

Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng VN cho biết, hiện giá điện bình quân là 1.600 đồng/kWh. Đến năm 2020, nếu vận hành toàn bộ công suất của ngành điện thì cần có 80 triệu tấn than. Trong khi đó, năm 2012 chỉ khai thác 40 triệu tấn và dự kiến năm nay khoảng 30 triệu tấn. Điều đó có nghĩa sắp tới VN phải nhập khẩu than.

Tất nhiên, giá điện không thể cứ đứng yên một chỗ và nhà nước không thể cứ “bao cấp” giá điện mãi được, nhất là đối với khối DN sử dụng nhiều điện năng. “Dưỡng sức” cho DN lúc này hay tận dụng CPI xuống dốc để tăng giá điện, lựa chọn nào cũng có những cái giá phải trả. Quan trọng, cái giá đó nghiêng ích lợi về bên nào, một vài ngành hàng hoặc nền kinh tế ?

Giá riêng cho những ngành tốn điện

Giá bán lẻ điện cho ngành sản xuất (cấp điện áp từ 22kV đến dưới 110kV) so với dự thảo biểu giá mới sẽ tăng 2-6% so với biểu giá cũ. Với đơn vị sử dụng điện giờ bình thường và giờ cao điểm sẽ phải chịu mức tăng là 2%, giá điện giờ thấp điểm có tỉ lệ tăng 6%.

Với cấp điện áp từ 110kV trở lên, giá điện giờ cao điểm và bình thường giữ nguyên, riêng giờ thấp điểm tăng 5%. Cấp điện áp từ dưới 6kV có mức tăng mạnh nhất. Giá điện giờ bình thường và giờ cao điểm sẽ cùng tăng 4%, giá điện giờ thấp điểm tăng tới 7%!

Đáng lưu ý trong khi tăng tỉ lệ, từ đó có thể tăng giá điện sản xuất thì dự thảo lại điều chỉnh khá mạnh biểu giá bán lẻ điện cho kinh doanh (đối tượng là các nhà hàng, khách sạn…). Tùy cấp điện áp và giờ sử dụng, giá bán điện cho đối tượng này sẽ giảm 3-9%.

Trong biểu giá điện là lần này Bộ Công thương đã tách riêng ngành ximăng, sắt, thép để quy định biểu giá riêng, chứ không cho hưởng giá chung với các ngành sản xuất khác. Giá điện cho nhà sản xuất tiêu thụ rất nhiều điện này có mức khá cao, từ 59-187% giá bán lẻ điện bình quân, tùy cấp điện áp và thời gian sử dụng điện vào lúc bình thường, thấp hay cao điểm.

Bá Tú

facebooktwittergoogleChia sẻ tin lên LinkHay.com

Từ khoá: suy thoái kinh tế bất động sản tổng giám đốc kinh tế thế giới nhu cầu gia xây dựng năng lượng kinh tế sản phẩm công nghệ phát triển trang thiết bị thiết bị tiêu thụ nền kinh tế khó khăn

Hà Nội: Khoảng 3.400 lao động mất và thiếu việc

Theo LĐLĐ TP.Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2013, TP.Hà Nội có nhiều giải pháp về phát triển kinh tế, hỗ trợ DN, nhưng tình hình SXKD của các DN trên địa bàn thủ đô chậm được phục hồi, việc làm của CN trực tiếp SX gặp nhiều khó khăn, ATVS thực phẩm, cháy nổ, vệ sinh môi trường, tai nạn giao thông… vẫn là những bức xúc tác động đến tư tưởng của CNVCLĐ.

Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, trong quý I đã có 3.369 DN phải giải thể, tạm dừng hoặc thu hẹp quy mô SX. Báo cáo của 20/47 CĐ cấp trên cơ sở cho thấy, khoảng 3.400 LĐ mất việc và thiếu việc làm. Thu nhập bình quân của NLĐ khoảng 2.900.000đ/người/tháng.

Trong những tháng cuối năm, LĐLĐ TP.Hà Nội chỉ đạo các cấp CĐ quận, huyện, ngành, CĐCS chú trọng công tác chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, CNVCLĐ. Đồng thời nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của CNVCLĐ, nhất là đối với LĐ thiếu hoặc mất việc làm.

Từ khoá: tai nạn giao thông suy thoái kinh tế bảo vệ quyền lợi việc làm

Hai tháng làm việc không lương, công nhân Viglacera Bá Hiến ngừng việc

Quá bức xúc vì bị nợ lương, nợ BHXH, sáng 3.7, khoảng 70 CN ở Cty CP Viglacera Bá Hiến (KCN Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) – một đơn vị của Cty gốm xây dựng Xuân Hòa, thuộc TCty Thủy tinh và Gốm xây dựng – đã ngừng việc tập thể để phản đối. Vụ việc đang được tổ chức CĐ và DN tìm cách tháo gỡ.

13 tháng không đóng BHXH cho NLĐ

Theo thông tin phản ánh tới Báo Lao Động của một CN (xin được giấu tên) đang làm việc tại Cty này, thời gian qua họ vẫn làm việc bình thường, nhưng 2 tháng qua – cụ thể là tháng 5 và tháng 6.2013 – không được lĩnh đồng lương nào. CN này bày tỏ sự bức xúc: Đời sống khó khăn, thu nhập thấp mà lại bị nợ lương như vậy, chúng tôi không biết lấy gì để duy trì cuộc sống.

Ngoài việc bị nợ lương, do DN làm ăn thua lỗ kéo dài, vật liệu xây dựng sản xuất ra khó tiêu thụ nên từ tháng 5.2012 đến nay, 250 LĐ ở DN này không được đóng BHXH của họ mặc dù hằng tháng DN vẫn thu tiền BHXH của CN theo quy định, nhưng không hiểu số tiền đó, DN đã sử dụng vào mục đích gì?

Tháo gỡ khẩn trương để ổn định tình hình trở lại

Ngay cuối giờ sáng 3.7, lãnh đạo Cty đã tổ chức một cuộc họp với sự tham gia của ban giám đốc, chủ tịch CĐCS và đại diện CĐ cấp trên là LĐLĐ huyện Bình Xuyên. Mục đích của cuộc họp là khẩn trương tìm cách tháo gỡ, động viên CN nhanh chóng trở lại làm việc.

Ông Phan Thanh Minh – Chủ tịch LĐLĐ huyện Bình Xuyên, một thành viên có mặt trong cuộc họp – cho biết, cuộc họp đã đi đến thống nhất và đưa vào biên bản: Phải nhanh chóng thanh toán số tiền lương đang nợ công nhân trong hai tháng qua. Đó chắc chắn là giải pháp mang tính quyết định, bởi một CN tham gia vào vụ ngừng việc này cho rằng, nếu không có lương, họ không thể tiếp tục làm việc cho Cty mà trước mắt phải tìm việc gì đó để đảm bảo cuộc sống đã.

Vấn đề nợ BHXH còn phức tạp hơn nữa. Theo một nguồn tin riêng của Lao Động, hiện DN này còn nợ BHXH chừng 4 tỉ đồng. Đây là con số tuy không quá lớn nhưng lại là gánh nặng ghê gớm với DN này, bởi theo báo cáo tài chính thì chỉ tính riêng quý I/2013, Cty đã bị thua lỗ gần 4 tỉ đồng.

Ngay sau khi nhận được thông tin về vụ ngừng việc tập thể, LĐLĐ tỉnh Vĩnh Phúc đã có chỉ đạo tổ chức CĐ ở địa phương tham gia giải quyết vụ việc. Cụ thể, LĐLĐ huyện Bình Xuyên đã cử nhóm cán bộ xuống tận nơi, tiếp xúc trực tiếp với CN để nắm tình hình cụ thể và tư vấn cho họ những cách làm sao cho đảm bảo hài hòa giữa việc đấu tranh đòi quyền lợi hợp pháp, chính đáng và duy trì sự ổn định trong DN.

Ông Bùi Hồng Đô – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Vĩnh Phúc – cho rằng, để CN phải ngừng việc là một sự việc đáng tiếc xảy ra trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân sâu xa chính là do DN bị ảnh hưởng nặng từ tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài trong thời gian qua, làm ăn thua lỗ, không còn khả năng chi trả. Nhưng còn một nguyên nhân mang tính chủ quan là chuyên môn và CĐCS đã không biết cách thu xếp và tìm sự hỗ trợ từ nhiều phía để giải quyết khó khăn, để tình trạng nợ lương và nợ BHXH của CN kéo dài.

Chủ tịch LĐLĐ tỉnh cho biết thêm, tổ chức CĐ biết rõ những khó khăn của các DN sản xuất vật liệu xây dựng và đang tính toán để định hướng, liên hệ giúp một số CN có việc làm ở những DN khác, không để họ phải đứng trước nguy cơ làm việc không lương như ở Cty CP Viglacera Bá Hiến.

Thông tin từ LĐLĐ huyện Bình Xuyên cho biết, sau cuộc họp với đại diện CN, có sự tham gia của Chủ tịch CĐ TCty Viglacera, sự việc đã được giải quyết ổn thỏa. Cty đã hứa sẽ nhanh chóng thanh toán tiền lương còn nợ CN và xây dựng lộ trình xử lý nợ đọng BHXH trong thời gian tới. Đến 15h ngày 3.7, số CN ngừng việc đã đi làm trở lại.

Từ khoá: gia suy thoái kinh tế xây dựng giải quyết bhxh thua lỗ thông tin khó khăn thu nhập thấp

TP HCM kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

(VOV) -Tự hào là thành phố được mang tên Bác, trong 38 năm kể từ ngày giải phóng, TP HCM đã có những bước phát triển vượt bậc.

Sáng 19/5, tại TP HCM, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ) TP HCM tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh(19/5/1890-19/05/2013) và tuyên dương các gương học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tham dự buổi lễ có ông Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM; ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBND TP HCM, đại diện lãnh đạo các Sở, ban, ngành, Mặt trận, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cùng đông đảo nhân sỹ, trí thức, đoàn viên thanh niên thành phố.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành uỷ TP HCM thay mặt Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân TP HCM đã ca ngợi công ơn vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bài diễn văn đã tóm tắt quá trình hoạt động cống hiến của Người, từ lúc là cậu bé Nguyễn Sinh Cung đến chàng thanh niên, thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành, nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chủ tịch. Người đã đứng tại quảng trường Ba Đình lịch sử đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc đời của người là tấm gương chói lọi, soi đường, dẫn lối cho bao thế hệ sau này.

Tự hào là thành phố được mang tên Bác, trong 38 năm kể từ ngày giải phóng, thành phố đã có những bước phát triển vượt bậc, là địa phương đi đầu cả nước trong công cuộc Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Mặc dù bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng trong 5 năm từ 2006-2010, GDP của thành phố tăng bình quân gần 11%/năm, cao hơn từ 1,4 đến 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của cả nước.

Riêng năm 2012 GDP tăng 9,2% bằng 1,85% so với mức tăng cả nước, cơ cấu kinh tế TP HCM chuyển dịch theo hướng phát triển nhanh và bền vững, đời sống người dân từng bước được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt.

Ông Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư thường trực Thành ủy TPHCM nhấn mạnh: “Đảng bộ và nhân dân thành phố mang tên Người nguyện mãi mãi đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đảng bộ chính quyền và nhân dân thành phố quyết xứng đáng hơn nữa thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục phát huy cao độ truyền thống cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, kiên định con đường Xã hội Chủ nghĩa, nỗ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt thời cơ vượt qua thách thức giữ vững ổn định xã hội, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng với tốc độ cao hơn cả nước. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng TP HCM văn minh hiện đại”.

Thực hiện việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong những năm qua, tại TP HCM đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân là những tấm gương xuất sắc trong lao động sản xuất và trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố đã tuyên dương: 141 tập thể và 215 cá nhân xuất sắc nhất. Đó chính là những bông hoa tươi thắm nhất về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá Đặng Trung Thành, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hội cựu chiến binh quận 12, TP HCM, một trong những cá nhân được vinh danh thực hiện tốt “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nói: “Được Thành ủy vinh danh và khen thưởng trong đợt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy đây là niềm vinh dự cho cá nhân nhưng đồng thời cũng là niềm vinh dự cho hội cựu chiến binh quận 12. Đây cũng là động lực động viên chúng tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để góp phần xây dựng quận 12 giàu mạnh văn minh và nghĩa tình”.

Trước khi vào buổi lễ, các đoàn đại biểu Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ TP HCM cũng đã đến dâng hương chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP HCM./.

Từ khoá: suy thoái kinh tế đạo đức cá nhân nền kinh tế xây dựng khủng hoảng tài chính nâng cao chất lượng kinh tế phát triển

Thời trang Việt: Nhà thiết kế nhiều khi chỉ như điểm nhấn

ANTĐ – Vài năm trở lại đây, con số các công ty dệt may tên tuổi tham gia Tuần lễ thời trang Việt Nam (Vietnam Fashion Week) cứ thưa dần. Mùa thời trang Thu Đông năm nay, trong danh sách tham dự chỉ còn May Việt Thắng. PV Báo ANTĐ đã có cuộc trò chuyện cùng ông Ngô Trường Sơn, Giám đốc Kinh doanh nội địa – Công ty CP May Việt Thắng.

Các mẫu thiết kế của Hoa hậu – NTK Ngọc Hân trong Tuần lễ thời trang Xuân Hè 2013

– PV: Thưa ông, nhìn vào danh sách tham dự Tuần lễ thời trang Việt Nam Thu Đông 2013, có vẻ như suy thoái kinh tế cũng đã tràn qua cả sàn diễn?

– Ông Ngô Trường Sơn: Sự suy thoái kinh tế không chừa ngành nghề nào. Bạn cứ thử dạo phố một vòng mà xem, rất nhiều các cửa hàng thời trang treo biển khuyến mãi, giảm giá. Sau Tết Nguyên đán, rất nhiều cửa hàng sang nhượng hoặc đóng cửa. Nhà thiết kế (NTK) Minh Hạnh đã từng chia sẻ, sau mỗi Tuần lễ thời trang, còn được gặp lại nhà thiết kế nào, thì coi như NTK đó đã trụ vững trong thương trường vốn nhiều khốc liệt.

– Các công ty chuyên về may mặc vẫn luôn coi các NTK như “con cưng”, vậy làm thế nào để giữ chân những người tài trong điều kiện kinh tế khó khăn này?

– Thật sự, đây không phải câu hỏi đầu tiên mà Ban Giám đốc May Việt Thắng nhận được. Rất nhiều công ty thời trang đã không giữ được các NTK ở lại. Hiệu quả các NTK mang lại cho May Việt Thắng bạn đã thấy được trong Tuần lễ thời trang Thu Đông là rất lớn, còn lợi ích mà chúng tôi mang lại cho các NTK đó là môi trường làm việc, sự đồng cảm, tạo điều kiện một cách tốt nhất cho các NTK học hỏi và phát huy vai trò cũng như năng lực bản thân. Có một điều khác nữa, nhiều công ty sử dụng NTK như điểm nhấn, như những bông hoa trang trí cho bề dày thành tích và thương hiệu chứ họ chưa khai thác hết phần tinh túy, khả năng của các NTK.

– Không ít NTK thời trang từng kể rằng, khi đầu quân cho các công ty may mặc lớn họ bị coi không khác gì các kỹ thuật viên. Điều này có đúng?

– Các NTK khác các kỹ thuật viên ở tầm nhìn, độ tinh tế. Chúng tôi không coi các NTK như “gà đẻ trứng vàng”, kiểu như yêu cầu mỗi ngày người đó phải làm gì, thu được lợi nhuận bao nhiêu cho công ty mà chúng tôi đánh giá qua từng năm. NTK đã khiến các sản phẩm thay đổi thế nào, sự khác biệt của dòng sản phẩm trên thị trường, người tiêu dùng ủng hộ ra sao và sản phẩm của chúng tôi có thể chinh phục thị trường thời trang trong nước một cách tốt nhất. Kỹ thuật viên có thể giỏi về thông số và cách gia giảm trong quá trình may mặc nhưng họ không thể can thiệp về màu sắc chất liệu và những nguyên phụ liệu đính kèm sản phẩm, để sản phẩm có tính khác biệt, tính ứng dụng và một giá trị cao hơn sản phẩm cùng loại trên thị trường.

– Ông đánh giá thế nào về các NTK thời trang của Việt Nam hiện tại?

– Đó là những người có tâm huyết, thế hệ các NTK gần đây còn được đào tạo bài bản từ nước ngoài. Nhưng cá nhân tôi cho rằng, thế vẫn chưa đủ. Tôi chỉ nói riêng về các NTK đang cộng tác với các công ty may trong nước. Trước đây ở một số công ty dệt may mà tôi được biết, thường có cả một đội ngũ NTK hùng hậu, nhưng sự thật là thời gian gắn bó của các NTK với công ty rất ngắn. Ai cũng hiểu một điều, các NTK không phải là yếu tố quyết định sản phẩm làm ra bán được hay không mà phải có sự kết hợp. Công ty cho họ thế mạnh là được đào tạo bài bản, chất liệu, đối tượng khách hàng có thể sử dụng sản phẩm của công ty. Bên cạnh đó công ty có thể sử dụng chất xám của họ, độ tinh tế, mỹ thuật, kiến thức, chất liệu, kiểu dáng đó là việc của họ để đưa ra các kiểu dáng mẫu mã cho từng mùa.

– Ông có thể lý giải về mối duyên ngắn ngủi giữa các NTK và các doanh nghiệp may mặc Việt Nam?

– Ở đây có 3 vấn đề. Tôi ví von hơi hình tượng thế này, một là các NTK như một miếng đất đã bạc màu, không tự làm mới mình, không còn giá trị sử dụng, không đột phá mà gây nhàm chán thì các công ty phải tự loại đi. Lý do thứ 2 là, trong khi các công ty như một bà đỡ giúp các NTK gắn kết ý tưởng, đưa vào sản xuất thì điều cần thiết ở đây là, cái “tôi” và cái “chúng ta” phải hòa nhập với nhau để ra một sản phẩm có chất lượng nhất, nhưng nhiều NTK cái “tôi” quá lớn, không thể dung hòa được. Vấn đề thứ ba là một số nhà quản lý chỉ chuyên về kỹ thuật, kiểu như độ dài 3cm thì nhất định phải là 3cm mà không hề biết rằng, ý tưởng của các NTK nhiều khi bay bổng, họ cần có khoảng trượt, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn. Nếu không dung hòa được điều này, mâu thuẫn dễ dàng xảy ra.

– Nhìn ra ngoài phố thấy bày tràn lan các sản phẩm Trung Quốc tôi lại thấy… con đường thời trang Việt còn lắm gian truân?

– Trước đây, ở Việt Nam có 2 trường đào tạo thiết kế thời trang là Mỹ thuật Công nghiệp và Đại học Mỹ thuật. Tại đây, họ chỉ được dạy thiết kế kiểu dáng, còn để làm sao may được chiếc áo đó thì các NTK chịu. Họ không được tiếp cận kỹ thuật may, và vì thế các NTK phải phụ thuộc vào cô thợ may trong khi cô thợ may thì lại không có kỹ thuật thiết kế. Trong khi đó ở Trung Quốc, họ có cả một tổ hợp chuyên nghiệp về tất cả các công đoạn trong may mặc. Ở TP.HCM có khu Tân Bình cũng chuyên làm các công đoạn thủ công trong may mặc, nhưng các đơn hàng nhỏ lẻ họ cũng không nhận, thường phải 30 sản phẩm trở lên.

– Theo quan điểm của ông, bao giờ ngành thời trang Việt mới vươn ra biển lớn?

– “Design by Vietnam” là ước mơ của nhiều thế hệ các NTK như Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, Đức Hùng. Tôi nghĩ để vươn ra biển lớn, rất cần Tập đoàn Dệt may Việt Nam quan tâm nhiều hơn đối với các sản phẩm may, không riêng của các công ty thành viên của Tập đoàn mà còn của các NTK tự do. Môi trường đào tạo các nhà thiết kế phải dạy kèm kỹ năng may, và khả năng sản xuất. Nói chung là sự kết hợp đồng bộ.

Quỳnh Vân (Thực hiện)

Từ khoá: dệt may sản phẩm việt nam thị trường người tiêu dùng suy thoái kinh tế đào tạo giá trị sử dụng thời trang gia kinh tế công ty kỹ thuật

Pakistan bước vào giai đoạn khó khăn mới

kinh tế ngân sách quốc gia suy thoái kinh tế chính phủ thủ tướng

(VOV) -Đất nước này phải đối mặt với các mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố và tình trạng suy thoái kinh tế.

Quốc hội Pakistan vừa giải tán sau khi kết thúc nhiệm kỳ năm năm. Sự kiện này đã mở đường cho việc thành lập Chính phủ lâm thời mới ở nước này để điều hành đất nước, thực hiện cuộc tổng tuyển cử dự kiến vào tháng 5 tới.

Thủ tướng Pakistan, Ashraf (Ảnh Getty Images)

Sau khi Quốc hội giải tán đêm qua, một chính quyền lâm thời sẽ tiếp tục điều hành Chính phủ cho tới các cuộc tổng tuyển cử trong vòng 90 ngày. Thủ tướng Raja Pervez Ashraf sẽ vẫn điều hành chính phủ cho tới khi bầu được một thủ tướng lâm thời, dự kiến có thể mất vài ngày.

Trước đó, cũng trong ngày 16/3, Thủ tướng Ashraf cùng lãnh đạo 4 tỉnh ở Pakistan nhất trí sẽ tiến hành bầu cử Quốc hội và hội đồng tỉnh trong cùng một ngày.

Dù đây là lần đầu tiên trong lịch sử 66 năm qua, Quốc hội Pakistan làm việc tới hết nhiệm kỳ năm năm, song theo các nhà phân tích, điều này chỉ mang tính hình thức. Bởi trên thực tế, uy tín của Thủ tướng Ashraf, cũng như chính phủ của ông đã bị sụt giảm đáng kể khi đất nước vẫn phải đối mặt với các mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố và tình trạng suy thoái kinh tế.

Trong phát biểu kết thúc nhiệm kỳ được truyền hình trực tiếp, Tổng thống Ashraf thừa nhận, Chính phủ của ông đã không đáp ứng được mong muốn của người dân, song chính phủ đã nỗ lực hết sức để giải quyết các vấn đề và tăng cường nền dân chủ.

Ông nói: “Quả thực, trong 5 năm qua chúng tôi đã không thể giải quyết hết những vấn đề của đất nước. Song chúng tôi luôn nỗ lực hết sức mình để kiểm soát các vấn đề còn tồn tại từ chính phủ tiền nhiệm, Chúng tôi đã sử dụng tất cả các nguồn lực để tăng cường các nền tảng dân chủ. Thành quả là nền dân chủ của chúng ta đã trở nên rất mạnh mẽ và không gì có thể đánh bại trong tương lai.”

Trong phát biểu của mình, Thủ tướng Ashraf cũng bày tỏ tin tưởng tiến trình bầu cử sẽ diễn ra suôn sẻ. Ông kêu gọi các đảng phái chính trị, các cơ quan nhà nước, xã hội dân sự và truyền thông góp phần để các cuộc bầu cử tự do, công bằng và minh bạch này được diễn ra trong hòa bình.

Trên thực tế, 5 năm qua, chính phủ của Thủ tướng Ashraf đã trải qua không ít sóng gió, với một bộ máy quân đội vẫn giữ vai trò quan trọng trên chính trường và một Tòa án tối cao không còn ngần ngại tấn công những “bộ máy cao nhất”.

Mâu thuẫn giữa chính phủ dân sự nắm quyền và giới quân sự vẫn tiếp diễn âm ỉ và chực chờ cơ hội bùng phát. Bản thân ông Ashraf cũng đang phải đối mặt với lệnh bắt giữ của Tòa án tối cao vì cáo buộc vi phạm những quy định liên quan tới các dự án mua điện trong thời kỳ ông giữ chức Bộ trưởng Điện- Nước, gây thiệt hại nặng nền cho ngân sách quốc gia.

Đã có một số ý kiến cho rằng, quân đội và tòa án đang ngầm liên kết với nhau để kiềm chế quyền lực của chính phủ. Trong bối cảnh an ninh, kinh tế hiện nay, nếu bất ổn chính trị xảy ra và không được dàn xếp ổn thỏa, dư luận lo ngại sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng mới tại Pakistan./.

thủ tướng ngân sách quốc gia chính phủ kinh tế suy thoái kinh tế