Nhiệm vụ cốt lõi của các nhà băng là nâng cao năng lực quản trị rủi ro

(ĐTCK) Ghi nhận của ĐTCK về quan điểm của lãnh đạo một số NHTM đối với những thách thức cũng như giải pháp phát triển của ngành ngân hàng hiện nay.

Ông Phạm Hữu Phú, Chủ tịch HĐQT Sacombank

Trong năm 2013, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng được các tổ chức quốc tế dự báo sẽ tăng trưởng cao hơn so với năm 2012. Trong bối cảnh như vậy, Sacombank kiên trì định hướng “trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại, đa năng hàng đầu khu vực”, trong đó, chú trọng vào yếu tố hiệu quả và bền vững.

Các mấu chốt trong chiến lược phát triển giai đoạn tới là gia tăng năng suất lao động, chú trọng công tác quản trị chi phí hiệu quả và cải tiến phương thức quản lý – quy trình tác nghiệp, tối đa hóa giá trị lợi ích trên từng đơn vị khách hàng, song song với việc nâng cao công tác quản trị, điều hành để đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả hơn. Sacombank đã đưa ra định hướng hoạt động: “Tăng trưởng bền vững – Hiệu quả hợp lý”. Theo đó, Sacombank tập trung tăng trưởng tín dụng thận trọng, phù hợp với định hướng của ngành; từng bước nâng cao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi để tạo cơ cấu thu nhập bền vững; đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch có trọng điểm và tăng cường đầu tư chiều sâu; cải tiến tổ chức bộ máy tinh gọn theo hướng tăng nhân sự cho hoạt động bán hàng.

Ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank

Có thể nói, thị trường năm 2013 là khúc quanh, tính sàng lọc mạnh mẽ hơn. Phía trước là những thách thức lớn đối với hoạt động của ngành ngân hàng như: nợ xấu, bất động sản đóng băng, DN khó khăn, đầu ra cho dòng tiền khó… Những ngân hàng mạnh vượt qua được khúc quanh đó thì đến khi nền kinh tế phục hồi sẽ tăng trưởng tốt hơn. DongA Bank coi năm 2013 là năm bản lề để có những bước đi mang tính quyết liệt, dồn sức cho quá trình đổi mới, chuẩn bị cho một thời kỳ tăng trưởng tiếp theo. Trong đó, ưu tiên cân đối về sức khỏe và con số tài chính.

Chủ trương hoạt động của DongA Bank trong năm nay là đặt yếu tố an toàn và ổn định lên hàng đầu. Đồng thời, Ngân hàng sẽ tăng cường hỗ trợ DN, vì hoạt động DN có an toàn, Ngân hàng mới an toàn. Một trong những nhiệm vụ lớn nhất trong năm nay đối với DongA Bank là tái cấu trúc hoạt động của Ngân hàng theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả. DongA Bank cũng đặt kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 5.000 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng, để nâng cao năng lực tài chính.

Điểm nổi bật trong chiến lược hoạt động năm 2013 là DongA Bank tập trung vào mảng ngân hàng bán lẻ. Hiện Ngân hàng đang có tới gần 6 triệu khách hàng cá nhân.

Bà Nguyễn Minh Thu, Tổng giám đốc OceanBank

Thời gian qua, các chính sách của Nhà nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn còn thấp, thị trường bất động sản, chứng khoán và các DN vẫn phải đối mặt với hàng loạt khó khăn. Các ngân hàng TMCP một mặt phải đối diện với những thách thức của nền kinh tế, nợ xấu gia tăng, một mặt phải đứng trước áp lực giành thị phần và tạo lợi nhuận trong thời gian ngắn.

OceanBank cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng đây cũng là cơ hội cho Ngân hàng củng cố nội lực để sẵn sàng bứt phá. Dự án đổi mới mà OceanBank triển khai thực hiện trong thời gian qua là một minh chứng cho nỗ lực tự thân của Ngân hàng để phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội, nối dài các chặng đường phát triển, để thương hiệu OceanBank tiếp tục lan tỏa. OceanBank xác định mục tiêu lâu dài là an toàn trong mọi hoạt động, chuyên nghiệp trong quản trị, tập trung vào khách hàng bằng những chính sách, sản phẩm dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, đơn giản và tiện ích nhất.

Ông Tay Han Chong, Tổng giám đốc MeKong Bank

Trong bối cảnh thị trường hiện nay, để phát triển ổn định và bền vững, các NHTM cần có sự thay đổi cả về cách nghĩ cũng như hành động. Trong đó, năng lực quản lý rủi ro là yếu tố cốt lõi để phân biệt giữa các tín dụng tốt, xấu và rất xấu. Bên cạnh đó, đã đến lúc, chúng ta cần phải nhìn xa hơn quy mô và số lượng các chi nhánh của một ngân hàng để có cái nhìn toàn diện hơn về mức độ tốt và vững mạnh của ngân hàng.

Trong năm nay, các ngân hàng cần phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe tài chính của các khách hàng, cả DN và cá nhân. Nền kinh tế trong nước cũng như thế giới tiếp tục phải đối mặt với khó khăn, rủi ro tiềm tàng sẽ tiếp tục tăng. Mặt khác, việc lãi suất đang giảm dần sẽ làm cho cái giá của rủi ro thêm tăng. Vì vậy, tất cả các ngân hàng cần phải hoạch định cho mình những bước đi thật cẩn thận để cân bằng giữa sự tăng trưởng và rủi ro. Ngân hàng nào luôn giữ “sức khỏe” tốt thông qua các chiến lược đúng đắn, nội lực ổn định thì sẽ mau chóng vượt qua “cơn cảm cúm” của nền kinh tế hiện nay.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thấy có nhiều cơ hội để phát triển một cách cân bằng trong tình hình kinh tế hiện nay. MeKong Bank đã quán triệt về mục tiêu tăng trưởng kinh doanh với quản lý tốt rủi ro tín dụng. Những năm gần đây, chúng tôi đã thực hiện điều này một cách mạnh mẽ và rốt ráo hơn bao giờ hết. Ngoài ra, MeKong Bank cũng tận dụng nguồn lực từ FFH, cổ đông chiến lược nắm giữ 20% cổ phần Ngân hàng kể từ cuối năm 2010.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB

Hoạt động của ngành ngân hàng trong năm nay vẫn đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, do nền kinh tế thế giới và trong nước vẫn trong tình trạng suy thoái khi hoạt động tín dụng đang có nhiều rào cản. Trong đó, nợ xấu là vấn đề lớn nhất của các ngân hàng hiện nay. “Miếng bánh” tín dụng của ngân hàng đang bị thu hẹp và việc thu hút được khách hàng tốt vay vốn là rất khó. Yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng năm nay là phải kiểm soát được chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro và kiểm soát được nợ xấu. Tuy nhiên, do điều kiện kinh kế có khó khăn, hàng hóa khó tiêu thụ khiến nợ xấu khó kiểm soát.

Đối với OCB, mục đích của Ngân hàng trong năm nay là tập trung tái định vị thương hiệu, tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng, đi đôi với việc đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường một. Các chỉ tiêu tài chính OCB đặt ra cho năm nay gồm: tổng tài sản đạt 28.756 tỷ đồng; huy động vốn đạt 24.045 tỷ đồng, trong đó huy động từ thị trường 1 đạt 19.245 tỷ đồng; dư nợ cho vay 9% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới 3%. Còn lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 320 tỷ đồng. Mức lợi nhuận này được đưa ra trên cơ sở đã tính đến việc trích lập dự phòng.

Với thông điệp lãi suất sẽ theo hướng giảm đã tạo điều điều kiện tốt cho các DN cũng như ngân hàng hoạch định kế hoạch kinh doanh của mình. Vấn đề hiện nay là các ngân hàng phải tiết giảm chi phí tối đa, nâng cao hiệu quả hoạt động để có được lãi suất cho vay thấp nhất, cạnh tranh nhất mà vẫn đảm bảo được tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Bởi cái khó nhất trong phát triển tín dụng hiện nay chính là sự khó hấp thụ vốn từ các DN và từ thị trường. Hiện ngân hàng từng bước tháo gỡ khó khăn cho DN cả về giảm lãi suất cho vay và đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ khác như tạo các cơ chế bán chéo sản phẩm, cho vay bên mua hàng, cho vay dựa trên cơ sở đảm bảo của nguồn thu, phương án kinh doanh…

Tuy nhiên, nợ xấu vẫn là rào cản lớn trong hoạt động tín dụng. Đồng thời, nếu áp dụng các quy định mới tại Thông tư 02, theo tôi, sẽ có những khó khăn và ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của ngân hàng. Nhưng để đảm bảo được việc quản trị rủi ro thì đó cũng là điều cần thiết mà hiện nay các nước trên thế giới đã áp dụng.

Theo tôi, trong năm 2013 sẽ đan xen hai xu hướng gồm phát triển và quản trị theo hướng bền vững, hiệu quả. Về cơ bản, các ngân hàng luôn kỳ vọng lợi nhuận năm 2013 sẽ tốt hơn so với năm 2012. Nhưng trước bối cảnh thị trường khó khăn và để có thể tăng trưởng bền vững, Ngân hàng sẽ đặt mục tiêu quản trị rủi ro lên hàng đầu, phát triển bền vững và an toàn, thay vì lợi nhuận cao.

Ông Tareq Muhmood, Tổng giám đốc Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ (Việt Nam)

Trong một thời gian dài, một số ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng với bất cứ giá nào, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng lên đáng báo động và giờ đây, họ đang phải đặt trọng tâm vào quản lý rủi ro và tăng thanh khoản.

Ở giác độ cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước đã làm rất tốt việc điều hành hệ thống. Điều quan trọng là mỗi ngân hàng phải tự chịu trách nhiệm và rà soát lại bảng cân đối kế toán và đảm bảo đủ thanh khoản và phải tìm các biện pháp khác nhau để đáp ứng được nhu cầu tín dụng của khách hàng.

Ở một góc độ nào đó, điều kiện khó khăn chính là cơ hội để ngân hàng xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với khách hàng khi họ không nhận được sự hỗ trợ từ các ngân hàng khác (vì đang phải tập trung giải quyết các vấn đề nội tại).

Chúng tôi cho các DN trong nước vay nhiều hơn để giúp họ đảm bảo tăng trưởng ngay cả trong điều kiện môi trường có nhiều thử thách. Dù là ngân hàng trong nước hay ngân hàng nước ngoài thì nhiệm vụ quan trọng nhất là phải thành công thông qua việc có chiến lược rõ ràng, luôn hỗ trợ nhu cầu của khách hàng, tuân thủ với các quy định và tạo lợi nhuận trên vốn đầu tư.

Ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT Eximbank

Cá nhân tôi cho rằng, năm 2013 vẫn là năm có nhiều thách thức lớn với hệ thống ngân hàng nội địa Việt Nam.

Thứ nhất, sau một thời gian phát triển khá nóng, định hướng chung của Chính phủ và NHNN là cần tái cấu trúc và làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng. Điều này về lâu dài tốt cho nền kinh tế, nhưng trước mắt có thể khiến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nội địa giảm sút. Chẳng hạn, các mảng kinh doanh tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng như kinh doanh vàng đã bị thu hẹp. Bên cạnh đó, nhằm giúp hệ thống phát triển lành mạnh, các ngân hàng được yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, khiến tỷ suất lợi nhuận biên giảm sút.

Thứ hai, các ngân hàng nội địa hiện nay đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng ngoại. Chẳng hạn, hiện có ngân hàng ngoại đang chào các DN Việt Nam vay USD, VND với lãi suất thấp hơn các ngân hàng nội địa. Đa phần các ngân hàng Việt Nam cho vay với mức lãi suất cao hơn và doanh thu từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng rất lớn nên sự cạnh tranh này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Thứ ba, kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới nên hệ thống tài chính Việt Nam cũng biến động và phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Các diễn biến bên ngoài phức tạp, khó tiên liệu và nhận diện mức độ rủi ro đầy đủ.

Ông Nguyễn Tiến Đông, Phó tổng giám đốc Agribank

Bước sang năm 2013, tình hình kinh tế vĩ mô trong nước vẫn còn nhiều bất ổn, sản xuất – kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, tồn kho một số lĩnh vực còn cao. Xuất khẩu hàng hóa nông sản gặp khó khăn do kinh tế thế giới tiếp tục suy thoái. Nhiều khách hàng thu hẹp sản xuất hoặc có nguy cơ phá sản, khiến đầu ra cho sản phẩm tín dụng của ngành ngân hàng, trong đó có Agribank rất khó khăn.

Trước tình hình ấy, Agribank quán triệt thực hiện chủ trương, chính sách của Chính phủ, chỉ đạo của NHNN và các bộ, ngành về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; ưu tiên vốn cho khu vực “tam nông” (nông nghiệp – nông thôn – nông dân). Bên cạnh đó, Ngân hàng triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ DN tháo gỡ khó khăn, giải phóng hàng tồn kho, phục hồi hoạt động sản xuất – kinh doanh. Ngoài ra, Ngân hàng phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là việc bán chéo các sản phẩm dịch vụ, nhằm tăng khả năng thu từ hoạt động dịch vụ.

Ông Lê Thành Trung, Phó tổng giám đốc HDBank

Từ khoá: huy động vì khách hàng ngân hàng phương thức quản lý tái cấu trúc bão giám đốc gia việt nam sacombank hiệu quả an toàn vốn điều lệ tổng giám đốc lợi nhuận thế giới thị trường động sản nền kinh tế sản phẩm phát triển lành mạnh chiến lược phát triển chiến lược tổng tài sản bất động sản cổ đông chiến lược khách hàng cá nhân thách thức phát triển hiệu quả kinh doanh nội địa kinh doanh nhu cầu của khách hàng chính sách cạnh tranh năng suất lao động quản trị rủi ro khách hàng ổn định dịch vụ tăng vốn điều lệ kinh tế thế giới sức khỏe kinh tế tài chính khó khăn tín dụng trích lập dự phòng tăng trưởng năng lực tài chính

Tranh kho hàng thế chấp: chuyện không cá biệt

(ĐTCK) Để không rơi vào cảnh phải xử lý tranh chấp kho hàng, mất vốn, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro.

Luật sư Trần Minh Hải

Gần đây, thị trường đã ghi nhận một số vụ tranh chấp tài sản bảo đảm là hàng hóa tồn kho luân chuyển giữa các ngân hàng khi DN thế chấp ở nhiều nơi để vay vốn. Theo Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc điều hành Công ty Luật Basico, đây không phải là những tình huống cá biệt, bởi cho vay bằng tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho luân chuyển đang chiếm tỷ lệ cao trong cho vay khách hàng DN và Việt Nam vẫn chưa có bên thứ ba độc lập đứng ra đảm bảo về tài sản thế chấp.

Thưa ông, khi ngân hàng cho vay và nhận tài sản bảo đảm, hẳn phải có biện pháp để ngăn ngừa tình trạng tài sản đã được thế chấp ở nhiều nơi, nhiều lần?

Đối với các tài sản bảo đảm hiện hữu về giấy tờ pháp lý như nhà đất, phương tiện vận tải, nhìn chung, các ngân hàng có thể ngăn ngừa được nguy cơ này. Nhưng khi tài sản thế chấp hàng hóa thì ngân hàng khá mơ hồ.

Tại các ngân hàng, cho vay đảm bảo bằng hàng hóa tồn kho luân chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong cho vay khách hàng DN. Đây cũng là tài sản chủ đạo của các DN sản xuất, DN càng lớn thì càng thường xuyên sử dụng kho hàng làm tài sản đảm bảo.

Về nguyên tắc, khi nhận tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho luân chuyển thì giá trị tài sản đảm bảo phải lớn hơn giá trị khoản vay. Đối với loại tài sản bảo đảm này, ngân hàng thường sử dụng biện pháp bảo đảm thế chấp, có nghĩa là tài sản hàng hóa bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Nhưng thông thường, một khoản vay của khách hàng chỉ có giá trị một phần so với kho hàng và DN cũng chỉ dùng phần hàng hóa trong kho tương ứng với khoản vay làm tài sản bảo đảm. Như vậy, DN cũng có thể dùng kho hàng làm tài sản bảo đảm để vay nợ nhiều nơi khi mà họ thực hiện một khoản vay khác và mua thêm hàng hóa. Vấn đề là khi đó, trong hàng tấn, hàng chục nghìn tấn hàng hóa trong kho, ngân hàng không thể biết đâu là tài sản bảo đảm của ngân hàng mình. Điều này chả khác nào nhận một con lợn con trong đàn lợn làm tài sản bảo đảm, không thể biết con nào là của mình. Do đó, khi DN không có khả năng thanh toán, đã dẫn đến cảnh ngân hàng bao vây, chặn lối vào kho hàng.

Còn rủi ro nào khác mà ngân hàng phải đối mặt khi nhận tài sản bảo đảm là hàng hóa?

DN khi dùng khoản vay mua hàng, có thể xuất hiện tình huống chưa thanh toán hết cho bên bán hàng. Như vậy, tài sản đó chưa phải là tài sản của DN và bên bán hàng cũng có quyền xử lý kho hàng đó để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng không chỉ phải tranh chấp với nhau, mà còn phải tranh chấp với cả bên bán hàng.

Khi xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ngân hàng thường đối mặt với nguy cơ giá bán giảm, nguy cơ “tuồn kho”, khó bán tài sản, nếu tiếp tục duy trì kho hàng thì tốn chi phí vận hành như đông lạnh, bảo vệ… Ngoài ra, tài sản bảo đảm này là hàng hóa luân chuyển, tức là liên tục có nhập hàng, xuất hàng, khối lượng hàng hóa thay đổi liên tục. Nhằm đề phòng DN rút ruột kho hàng, ngân hàng thường thỏa thuận tài sản bảo đảm là lượng hàng hóa trong kho ở mọi thời điểm và nếu hàng hóa sụt giảm thì DN phải bù đắp dư nợ hoặc tài sản khác, nếu không ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ thành nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn. Nhưng trên thực tế, việc quản lý tài sản thế chấp là hàng tồn kho cũng gần như quản lý tài sản vô hình.

Vậy, theo ông, ngân hàng có thể sử dụng biện pháp gì khi cấp tín dụng để không rơi vào tình huống phải bao vây kho hàng siết nợ DN?

Có một công thức chung cho việc nhận bảo đảm bằng hàng hóa, đó là “thế chấp bằng tín chấp”, “cầm cố bằng chắc chắn”.

Xét về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, hiện các ngân hàng sử dụng biện pháp thế chấp đối với hàng hóa tồn kho luân chuyển, tài sản bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Tuy nhiên, với biện pháp thế chấp này, ngân hàng không trực tiếp nắm giữ tài sản, nên có nhiều rủi ro như đã nói ở trên.

Để hạn chế rủi ro khi sử dụng biện pháp bảo đảm bằng kho của bên thứ ba, tốt nhất các ngân hàng nên trực tiếp ký hợp đồng hai bên với bên cho thuê kho và trực tiếp trả tiền thuê để bảo đảm duy nhất một đầu mối quan hệ, tránh trường hợp ký ba bên như hiện nay, khiến cho bên cho thuê kho chỉ biết đến khách hàng của ngân hàng.

Giải pháp tốt hơn là ngân hàng sử dụng biện pháp cầm cố, tức là quản lý trực tiếp hàng hóa tại kho của ngân hàng. Hiện có ngân hàng muốn lựa chọn biện pháp này, nhưng lại vướng mắc quá nhiều trên thực tế, từ kinh phí cho đến việc bố trí quản lý kho, tổng kho theo địa bàn tập trung hàng hóa vùng miền, rào cản pháp lý về chức năng cho thuê kho… Nếu muốn, ngân hàng thường phải thành lập công ty con có chức năng quản lý nợ và khai thác tài sản và kho hàng sẽ do công ty này quản lý. Tuy nhiên, thủ tục rất phức tạp và phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

Trong trường hợp phát sinh việc khách hàng dùng kho hàng thế chấp nhiều lần và hàng hóa không đủ trả nợ tất cả khoản vay, các ngân hàng phải giải quyết ra sao? Khoản nợ nào sẽ được ưu tiên?

Về nguyên tắc, không có khoản nợ nào được ưu tiên vì hàng hóa đã bị trộn lẫn trong kho và không thể chứng minh con cá hay thanh thép trong kho là của ngân hàng nào. Trong tình huống này, các ngân hàng phải trông chặt kho hàng để tránh tình trạng tẩu tán hàng hóa. Nếu kho đã hết hàng thì các ngân hàng phải ngồi lại với nhau để có giải pháp. Lựa chọn giải pháp cụ thể nào thì tùy từng ngân hàng, cũng có ngân hàng lựa chọn cách thức đưa ra cơ quan công an. Nhưng về nguyên tắc, cơ quan công an chỉ điều tra, xác định vi phạm pháp luật hình sự đối với từng cá nhân, do đó, việc đưa ra cơ quan công an không thể giải quyết mục tiêu thu hồi nợ của các ngân hàng. Nếu khởi kiện dân sự thì tốn kém và mất thời gian.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, do vậy, để không rơi vào cảnh phải xử lý tranh chấp kho hàng, mất vốn, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro. Trước khi phê duyệt khoản vay bằng tài sản đảm bảo là kho hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ về tài sản đảm bảo này cũng như xây dựng được phương thức quản trị tốt nhất với khoản vay.

Theo luật sư Trần Minh Hải, ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với uy tín của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý.

Từ khoá: hàng không quản trị rủi ro chứng chỉ bão tài sản khách hàng khả năng thanh toán công an công ty pháp lý giải pháp hàng hóa thành lập công ty nền kinh tế tranh chấp thanh toán tình huống kho hàng lựa chọn nguy cơ nâng cao chất lượng chất lượng ngân hàng gia

UBCKNN chuẩn bị vận hành hệ thống cảnh báo sớm CTCK

công ty quản trị rủi ro bão tài chính cổ đông chiến lược năng lực tài chính tái cấu trúc chứng khoán

(HQ Online)- Theo tin từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), hiện cơ quan này đang khẩn trương hoàn tất các khâu thử nghiệm vận hành của Hệ thống cảnh báo sớm cho các công ty chứng khoán (CTCK), dự kiến sẽ chính thức đi vào triển khai vào tháng 5 tới.

chungkhoan.jpg

Anh minh hoa.

Trước đó, ngày 12-12-2012, UBCKNN đã phối hợp với Công ty tư vấn kiểm toán PWC xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cho các CTCK. Theo đó, PWC sẽ hỗ trợ đánh giá hiện trạng quản lý rủi ro, hệ thống hóa các rủi ro trọng yếu bao gồm: rủi ro chiến lược, tài chính, hoạt động, hệ thống, tuân thủ và các biện pháp quản lý, ứng phó với những rủi ro này tại Sở giao dịch chứng khoán và CTCK.

Hiện nay, tại Việt Nam có 105 CTCK đang hoạt động. Tuy nhiên, theo báo cáo năm 2012 đã có trên 50% số CTCK bị lỗ tính riêng năm 2012 và trên 70% số công ty chứng khoán có lỗ lũy kế.Chưa kể số CTCK bị UBCKNN đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, tạm đình chỉ hoạt động cũng chiếm gần 20 công ty.

Do vậy, một trong những nhiệm vụ của UBCKNN năm 2013 chính là việc tái cấu trúc các CTCK như: Phân loại, xử lý và giám sát chặt chẽ; Hoạt động tái cấu trúc về vốn, cổ đông chiến lược, nghiệp vụ kinh doanh, công nghệ, nhân sự, tổ chức của CTCK tiếp tục đang được triển khai nhằm giảm bớt số CTCK đang có, đồng thời loại bỏ những công ty có năng lực tài chính kém, chưa có hệ thống quản trị rủi ro cao, thường xuyên vi phạm pháp luật chứng khoán…

Chính vì vậy việc đưa vào vận hành hệ thống cảnh báo sớm CTCK sẽ hỗ trợ cho UBCKNN có các dữ liệu của báo cáo tài chính bán niên và báo cáo tài chính năm có kiểm toán của từng CTCK để qua đó hệ thống sẽ đưa ra các cảnh báo rủi ro đối với từng CTCK. Từ đó, UBCKNN nâng cao một bước trong công tác giám sát các hoạt động của CTCK và sớm nhận diện các rủi ro tiềm tàng tại các công ty chứng khoán, từ đó có hướng và biện pháp xử lý sớm, giải quyết ngay và triệt để các rủi ro, tránh rơi vào tình trạng bị động, gây ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường.

Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập hiện nay bắt buộc các CTCK phải đáp ứng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế vì vậy vấn đề quản trị rủi ro hiện nay cần được chú trọng hơn nữa nhằm ứng phó với những biến động của thị trường tài chính- chứng khoán trong nước và quốc tế.

Mai Ka

tái cấu trúc quản trị rủi ro chứng khoán bão tài chính năng lực tài chính công ty cổ đông chiến lược

Hợp nhất PVFC và Phương Tây: Không sa thải nhân sự

quản trị rủi ro cổ phiếu người lao động ngân hàng bảo vệ quyền lợi vốn điều lệ bão

Đại diện PVFC đã lần đầu tiên xuất hiện chính thức đề cập về vấn đề hợp nhất hai tổ chức tín dụng này. Theo đại diện PVFC, việc hợp nhất giữa một tổ chức có tiềm lực mạnh và ưu thế bán buôn với một ngân hàng nhỏ thiên về bán lẻ sẽ mang lại lợi thế tổng hợp cho một tổ chức mới.

Đại diện hai tổ chức cho biết, sau hợp nhất sẽ sử dụng tất cả các cán bộ nhân viên hai bên, sẽ hạn chế ít nhất việc xáo trộn công việc. Các cán bộ nhân viên sẽ không chịu bất kỳ sự bất lợi nào mặt công việc và lợi ích. Thậm chí, việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động sẽ được đưa thành một điều khoản trong hợp đồng hợp nhất.

Đại diện PVFC cam kết, chúng tôi phải bảo vệ quyền lợi cổ đông, người lao động của hai tổ chức. Bên cạnh các yếu tố công nghệ, dịch vụ… thì quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người để đảm bảo cho sự phát triển của ngân hàng sau hợp nhất đảm bảo an toàn hiệu quả.

Nguyên tắc hợp nhất theo đề án hợp nhất, hai tổ chức sẽ hợp nhất vốn, giá trị sổ sách của hai tổ chức sẽ được chuyển cho ngân hàng mới với vốn điều lệ của PVFC cộng với Phương Tây. Nghiêm cấm việc phân tán tài sản dưới mọi hình thức

20130316121326_nhphuongtay.jpg

Các bên cam kết không thực hiện chia tách cổ phiếu, chia cổ tức bằng cổ phiếu hay tăng giảm số cổ phiếu hoặc pha loãng giá trị sổ sách cổ phiếu đang lưu hành dưới bất kỳ hình thức nào.

Ngân hàng sau hợp nhất sẽ có nghĩa vụ phải đảm nhận tất cả những trách nhiệm đói với các hợp đồng, thỏa thuận mà PVFC và Phương Tây đã tham gia trước đó.

Theo lãnh đạo Phương Tây, quá trình hợp nhất sẽ có hai giai đoạn. Giai đoạn 1 kéo dài 1 -2 năm sẽ tập trung tăng khả năng quản trị rủi ro và nội bộ củng cố và năng cường năng lực cho ngân hàng mới. Giai đoạn hai sẽ mở rộng hoạt động và tăng cường các dịch vụ nâng cao tiềm lực và quy mô của tổ chức.

Hai bên đã thống nhất cử PVFC là đầu mối địa diện cho cả hai tổ chức làm việc với các cơ quan nhà nước và các đối tác trong quá trình hợp nhất.

Tính đến cuối 2011, vốn điều lệ của Phương Tây là 3.000 tỷ. PVFC có vốn điều lệ 6000 tỷ đồng. Ngân hàng sau hợp nhất sẽ có vốn điều lệ lên đến 9000 tỷ đồng, trở thành một trong những ngân hàng cổ phần có quy mô vốn lớn trên thị trường.

quản trị rủi ro cổ phiếu vốn điều lệ người lao động ngân hàng bão bảo vệ quyền lợi

Nằm im và… đợi

chứng khoán thua lỗ khai trương văn phòng mông thị trường tổng giám đốc thị trường chứng khoán khó khăn quản trị rủi ro lựa chọn vốn điều lệ kinh doanh

(DĐDN) – Từ chỗ một Cty lớn luôn cạnh tranh top 5 trên thị trường, Chứng khoán SBS nay đang phải nỗ lực và cả “cầu may” trong hành trình cơ cấu lại. Một số Cty chứng khoán khác, như Âu Việt, Chợ Lớn, đều đã lên kế hoạch giải thể.

imlangvadoi5a1-04ce0.gif

Có rất ít nhà đầu tư trong nước mặn mà mà đầu tư vào các CTCK Việt hiện nay

Liệu đường đi của các Cty chứng khoán sẽ chỉ theo một xu hướng ngày càng hẹp?

Những cú ngã

Với ba cái tên Cty chứng khoán đã “ngã ngựa” trên chứng trường gần đây nhất, mỗi một Cty lại có một cách “ngã” khác nhau. SBS to lớn và cồng kềnh về vốn chủ sở hữu (126.660.000 CP), đã đón nhận một kết quả kinh doanh âm cũng to lớn và cồng kềnh tương ứng. Theo báo cáo tài chính hợp nhất niên độ 2012, khoản lỗ năm 2012 là 127 tỉ đồng, lỗ lũy kế 1.767,8 tỉ đồng vượt quá vốn tự có và tỉ lệ vốn khả dụng là 0,57%. SBS đang đứng trước nguy cơ giải thể, phá sản nếu cơ hội tái cơ cấu mà đại hội cổ đông đã mở ra, sau một lần bị từ chối vào tháng 9 năm trước, không đồng hành cùng các cơ may phụ thuộc bên ngoài, chủ yếu từ khoản nợ dài hạn 800 tỉ đồng trái phiếu chuyển đổi với trái chủ là ngân hàng mẹ trước đây – Sacombank đang do NHNN “phán xử”; và khả năng gộp cổ phiếu, rút vốn điều lệ để xóa lỗ đang chờ được các cơ quan quản lý thông qua.

Nhưng một điều mà với SBS, hay bất cứ CTCK nào đang còn hoạt động trên thị trường, bài học không bao giờ quên vẫn là: Chuẩn mực quản trị rủi ro. Trong các khoản lỗ rất lớn của SBS, chắc chắn có những khoản đến từ nguyên nhân buông lơi quản trị rủi ro, và kèm theo đó, tất nhiên là yếu tố thiếu minh bạch, dù SBS là một CTCK niêm yết và phải chấp hành đầy đủ mọi quy định minh bạch thông tin.

Nếu như cái giá của việc buông lơi quản trị rủi ro bằng nhiều hình thức đã được đáp trả bằng hiện thực lỗ tại SBS, thì tại chứng khoán Âu Việt, CTCK đầu tiên tuyên bố giải thể trên thị trường, nguyên nhân thua lỗ thường được cho là do phía thị trường khó khăn. Âu Việt lỗ không nhiều và nếu có quyết tâm, hẳn vẫn có thể tái cơ cấu, chuyển mình theo một cách khác. Nhưng CTCK này, và Chủ tịch HĐQT của Cty, đã thực sự có mong muốn. Và do đó, cũng có nhiều nguồn tin cho mong muốn này hẳn phải có nguyên do. Phải chăng, những cổ đông chủ chốt của Âu Việt đã chấp nhận, hơn nữa là còn có cơ hội lựa chọn một cách… ngã đẹp. Thậm chí, còn có nguồn tin cho rằng các cổ đông này đã “chuyển hướng” kinh doanh từ lâu, kể từ khi chứng khoán “hết màu”, sang một đơn vị mới, một lĩnh vực kinh doanh mới có thể không xa lạ với chứng khoán, nhưng không bị… đau tim như lựa chọn trụ lại trên chứng trường.

Một cái tên thứ ba không được nhắc đến nhiều vì hiệu ứng “giải thể” dường như đã bắt đầu trở nên quen thuộc với nhà đầu tư trên thị trường: Chứng khoán Chợ Lớn. Đây không phải là Cty niêm yết nên có lẽ mọi thủ tục giải thể sẽ dễ dàng được đồng thuận, thông qua hơn. Tuy nhiên, dù vậy, ngã như Âu Việt, hay như Chợ Lớn… vẫn là những cú ngã… dũng cảm, là điều mà nhiều CTCK khác đang… mơ ước, nhưng không làm được. Đơn giản, không phải ai cũng có cơ hội cân đo thiệt hơn giữa giải thể, hay không hoạt động để nằm im chờ bán Cty. Đó, mới thực là bản chất của vấn đề vì sao thị trường có rất nhiều CTCK khó khăn, nhưng số CTCK buông tay vẫn còn rất ít.

“Nằm im chưa phải là… chết!”

Tương lai, số lượng CTCK sẽ thu hẹp lại và quy mô mỗi CTCK sẽ phình lên.

Nói một cách nôm na theo kiểu dân chơi “chứng” vẫn “buôn” với nhau, dù thế nào thì “Nằm im vẫn chưa phải là chết!”. Một Tổng giám đốc CTCK phía Bắc cho biết đang tính toán chuyện bán Cty, và đã có “dọ” hỏi. “Trước đây, thành lập được một CTCK, có cái giấy phép trong tay, đã có thể bán được 40-50 tỉ đồng. Nay, vớt vát hi vọng cũng được hơn phân nửa hoặc may thì hơn như thế”. Một Tổng giám đốc khác, có CTCK lỗ cơ bản 5 tỉ đồng/8 tỉ doanh thu trong năm 2012, lại cho biết các cổ đông chủ chốt của Cty anh, vừa mới góp vốn khai trương văn phòng kinh doanh một lĩnh vực hoàn toàn mới, chỉ liên quan đến giấy tờ sổ sách. “Hi vọng bên sổ sách giấy tờ sớm có lãi nuôi được bên chứng khoán, chờ thị trường… trở lại”.

Thật ra, thị trường sẽ không trở lại vì thị trường chưa đi đâu. Nó vẫn còn yên đó. Chỉ có dòng tiền trên thị trường, các điều kiện để thị trường khởi sắc lâu dài vẫn đang còn quá mong manh. Và các CTCK biết rõ hơn ai hết điều đó. Họ cũng biết rõ việc thành lập một CTCK đã nhiêu khê, khó khăn ra sao nên công sức bấy lâu không dễ dàng đổ xuống sông xuống biển, nếu họ không có cơ hội tốt hơn và việc thanh lý tài sản, giải thể Cty sẽ giúp họ đến với cơ hội đó tốt hơn, thì họ sẽ không lựa chọn phương án giải thể. Vì vậy, các cổ đông nhỏ của CTCK, ở những Cty đã thua lỗ, năm nay có thể tiếp tục buồn vì không được chia cổ tức, nhưng đừng vội… run.

Nhận định về vấn đề này, TS Alan Phan, nguyên Chủ tịch Viasa Fund HongKong cho biết: “Nhiều CTCK thua lỗ ở VN vẫn đang chờ đợi các đối tác, các nhà đầu tư nước ngoài mua lại, mua vốn, tham gia tái cơ cấu Cty… Có thể nói để đầu tư vào các CTCK Việt hiện nay, sẽ có rất ít nhà đầu tư trong nước mặn mà. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ quan tâm hơn và họ cũng trường vốn hơn, sẵn sàng chấp nhận thua lỗ trong 2-3 năm, chờ đến 5-7 năm mới làm ăn có lãi. Trong tương lai, theo xu hướng đó, chắc chắn số lượng CTCK sẽ thu hẹp và quy mô mỗi CTCK sẽ phình lên. Vấn đề của các CTCK đã hoạt động lỗ quá lâu, thời điểm bây giờ chỉ là: Đợi. Đợi và Deal (thương thảo) sao cho có thể có được cái giá phù hợp với hi vọng của mình”.

Lê Mỹ

quản trị rủi ro khai trương văn phòng chứng khoán vốn điều lệ kinh doanh thị trường lựa chọn khó khăn mông tổng giám đốc thị trường chứng khoán thua lỗ

Ra mắt Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ PVI Sun Life

công ty bảo hiểm tài chính khách hàng thương hiệu kinh nghiệm nguyễn anh tuấn kinh doanh bảo hiểm quản trị rủi ro thị trường bảo hiểm nhân thọ công ty cổ phần công ty bảo hiểm pvi sun life việt nam tập đoàn tài chính thị trường pvi thiết kế sản phẩm thị trường việt nam chất lượng cao bộ tài chính công nghệ thông tin nhân thọ thị trường bảo hiểm công ty bảo hiểm nhân thọ lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bão thị trường châu á bảo hiểm sun life financial thành lập công ty tổng giám đốc bảo hiểm nhân thọ hội đồng quản trị

(DĐDN) – Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ PVI Sun Lifevừa tổ chức Lễ ra mắt tại Hà Nội, trở thành công ty thứ 15 tham gia vào thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Lễ ra mắt có sự tham dự của Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Vũ Văn Ninh, Bộ trưởng Ngoại giao Canada John Baird, Đại sứ Canada tại Việt Nam Deborah Chatsis, Lãnh đạo Bộ Tài chính, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam…

Untitled-1-d0ce3.jpg

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị PVI, phát biểu tại buổi lễ: “Công ty bảo hiểm nhân thọ PVI Sun Life, liên doanh giữa Tập đoàn Sun Life và PVI, sẽ có thế mạnh và hướng đi khác biệt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. PVI Sun Life sẽ được thừa hưởng kinh nghiệm 150 năm phát triển của Sun Life Canada, đặc biệt là trong lĩnh vực quản trị rủi ro, thiết kế sản phẩm, quản trị kênh bán hàng và hệ thống công nghệ thông tin. PVI Sun Life sẽ kế thừa từ PVI sức mạnh thương hiệu, uy tín, kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường nội địa và khát vọng và hoài bão lớn lao của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ nhân viên toàn PVI”.

Ông Dean Conner, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Sun Life Financial, nhấn mạnh: “Sun Life Financial và PVI không chỉ thành lập một công ty bảo hiểm, mà là thành lập công ty tốt nhất trên thị trường. Chúng tôi hướng tới trở thành công ty bảo hiểm nhân thọ hàng đầu ở Việt Nam. Chúng tôi tin rằng với danh tiếng, thương hiệu và sự thông hiểu thị trường Việt Nam của PVI cùng kinh nghiệm toàn cầu về định phí, quản lý rủi ro của Sun Life, chúng tôi sẽ đạt được mục tiêu”.

Untitled-2-d0ce3.jpg

Ngày 24 tháng 01 năm 2013, Bộ Tài chính đã cấp Giấy phép số 68 GP/KDBH cho Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ PVI Sun Life. PVI Sun Life là công ty bảo hiểm nhân thọ với số vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng được thành lập bởi Công ty cổ phần PVI (sở hữu 51% vốn điều lệ) và Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Sun Life Financial (sở hữu 49% vốn điều lệ).

Sự ra đời của PVI Sun Life là kết quả của hợp đồng hợp tác giữa PVI và Sun Life ký ngày 31 tháng 5 năm 2012. Ngay sau đó, PVI và Sun Life đã rất nỗ lực chuẩn bị các thủ tục cần thiết và vào ngày 24 tháng 01 năm 2013, PVI Sun Life đã nhận được Giấy phép thành lập từ Bộ Tài chính. Điều này đã thể hiện sự quyết tâm của PVI và Sun Life cũng như sự quan tâm, ủng hộ to lớn của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là Bộ Tài chính.

PVI mang đến cho PVI Sun Life thương hiệu và uy tín tại Việt Nam của mình cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng lớn, mạng lưới rộng khắp và nguồn nhân sự có chất lượng cao. Bên cạnh đó, Sun Life đóng góp gần 150 năm kinh nghiệm và hiểu biết trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, bao gồm cả kinh nghiệm có được tại thị trường châu Á từ năm 1892 đến nay. Sun Life cũng mang đến các kỹ năng toàn cầu về bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt trong các lĩnh vực định phí, quản lý rủi ro và quản lý hệ thống phân phối.

Với trọng tâm là Hướng tới khách hàng – Sản phẩm tiên tiến – Phát triển con người, PVI Sun Life cam kết cung cấp cho khách hàng các sản phẩm bảo hiểm tiên tiến và có ý nghĩa cho cuộc sống của khách hàng.

P.Nam

quản trị rủi ro bão thị trường việt nam pvi sun life nhân thọ tài chính việt nam kinh doanh bảo hiểm bảo hiểm lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ thương hiệu bộ tài chính bảo hiểm sun life financial thị trường pvi công nghệ thông tin khách hàng hội đồng quản trị thành lập công ty công ty bảo hiểm thiết kế sản phẩm tổng giám đốc tập đoàn tài chính chất lượng cao công ty bảo hiểm nhân thọ thị trường châu á nguyễn anh tuấn công ty cổ phần thị trường bảo hiểm công ty thị trường bảo hiểm nhân thọ kinh nghiệm

Eximbank tăng trưởng vượt bậc

chất lượng đào tạo phát triển tổng giám đốc vốn điều lệ công nghệ thông tin chiến lược liên minh hợp tác chất lượng sản phẩm ngân hàng nhật bản chất lượng cao nền kinh tế sản phẩm mới quốc tế tổng tài sản cổ đông chiến lược việt nam kinh doanh eximbank quản trị rủi ro

Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam và Sumitomo Mitsui Banking Corporation vừa kỷ niệm 5 năm hợp tác chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển bền vững của hai bên

Năm 2007, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) và Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) đã ký thỏa thuận liên minh chiến lược, mở ra mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên. Theo đó, SMBC đã đầu tư 15% vốn cổ phần vào Eximbank, chính thức trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng này.

Quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế

Qua 5 năm đồng hành với Eximbank, SMBC đã tư vấn cho Eximbank thành lập kế hoạch và hệ thống quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế, hoàn thiện mô hình quản lý tín dụng tập trung. Eximbank cũng đã tăng cường quản lý rủi ro đối với hoạt động tín dụng, kinh doanh vàng, tiền tệ…

Do đã xác định hoạt động kinh doanh ngân hàng bán lẻ là nội dung then chốt trong hợp tác chiến lược giữa hai bên nên ngay từ đầu, SMBC đã cùng Eximbank lập kế hoạch phát triển ngân hàng bán lẻ trung và dài hạn, biệt phái các chuyên gia sang Việt Nam để cùng Eximbank triển khai các gói sản phẩm mới, hoạt động kinh doanh thẻ, cho vay mua ô tô, tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm…

chot8C_1986e.jpg

Nhờ liên minh chặt chẽ với SMBC, Eximbank đã tăng trưởng vượt bậc về quy mô và chất lượng hoạt động

SMBC đã cùng Eximbank thành lập trung tâm đào tạo theo mô hình của SMBC nhằm nâng cao kiến thức cho đội ngũ nhân viên Eximbank. Các chuyên gia, các nhà quản lý của Eximbank cũng được cử sang Nhật Bản thông qua các chương trình đào tạo, tham quan… để trực tiếp chứng kiến và học hỏi những kinh nghiệm từ thị trường này. Hướng tới, Eximbank và SMBC sẽ đẩy mạnh hợp tác đào tạo nhân lực, đồng thời chuẩn bị đội ngũ quản lý kế thừa chất lượng cao.

Ngoài ra, SMBC còn hỗ trợ Eximbank tiếp cận các nguồn vốn quốc tế với chi phí hợp lý, tăng cường thanh khoản cho Eximbank bằng hạn mức cho vay liên ngân hàng; lựa chọn và áp dụng công nghệ thông tin hiện đại.

Nâng cao vị thế ngân hàng

Ông Hiroshi Minoura, Phó Tổng Giám đốc, thành viên HĐQT SMBC, cho biết châu Á – Thái Bình Dương là khu vực cốt lõi trong chiến lược kinh doanh của SMBC, trong đó Việt Nam là một thị trường hết sức quan trọng. Vì vậy, nhiều năm trước, SMBC cần tìm một đối tác tiếp thu những kỹ thuật của SMBC để đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. “SMBC đã tìm thấy một đối tác như thế là Eximbank”- ông Hiroshi Minoura nói.

Theo ông Harunitsu Hida, Tổng Lãnh sự Nhật Bản tại TPHCM, SMBC là một tổ chức tài chính tiêu biểu ở Nhật Bản và cả toàn cầu. Việc SMBC hợp tác với Eximbnak không chỉ giúp cho Eximbank trở thành một ngân hàng vững mạnh mà còn đóng góp cho quan hệ thương mại Việt – Nhật qua việc Eximbank tài trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Nhờ liên minh chặt chẽ với SMBC, Eximbank đã tăng trưởng vượt bậc về quy mô và chất lượng hoạt động. Từ một ngân hàng có vốn điều lệ 2.800 tỉ đồng và tổng tài sản 33.000 tỉ đồng vào năm 2007, đến cuối năm 2012, Eximbank đã trở thành ngân hàng có vốn điều lệ đạt 12.355 tỉ đồng và tổng tài sản hơn 170.000 tỉ đồng. Điều này đã lý giải vì sao Eximbank nhận được các giải thưởng cao quý như: Tốp 1.000 Ngân hàng hàng đầu trên thế giới do tạp chí The Banker trao tặng, “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2012” do tạp chí AsiaMoney trao tặng, “Sao vàng đất Việt 2011” do Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam trao tặng cùng nhiều giải thưởng khác…

Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác

Theo ông Trương Văn Phước, Tổng Giám đốc Eximbank, tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, Eximbank và SMBC sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, quản trị doanh nghiệp và đặc biệt là quản trị rủi ro, đào tạo nguồn nhân lực… Hai bên cũng sẽ tìm hiểu và xúc tiến thiết lập các liên minh kinh doanh giữa Eximbank – SMBC trong một số lĩnh vực nhằm nâng cao giá trị cho cả hai tổ chức, tạo cơ sở phát triển bền vững cho Eximbank trong tương lai.

vốn điều lệ sản phẩm mới nhật bản tổng giám đốc chất lượng sản phẩm việt nam phát triển tổng tài sản liên minh hợp tác cổ đông chiến lược quốc tế chất lượng cao công nghệ thông tin eximbank đào tạo chiến lược kinh doanh nền kinh tế ngân hàng chất lượng quản trị rủi ro

Rủi ro từ cho vay ký quỹ của các công ty chứng khoán

tài sản môi giới giảm thiểu rủi ro ngân hàng việt nam thị trường chứng khoán chứng khoán quản trị rủi ro cổ phiếu gia thị trường công ty bão giảm giá

Việc các công ty chứng khoán cho vay ký quỹ đảm bảo bằng một mã cổ phiếu đang khiến thị trường chứng khoán Việt Nam đối mặt với rủi ro kép.

Rủi ro từ cho vay ký quỹ của các công ty chứng khoán 0

Cho vay ký quỹ chứng khoán là hình thức cấp tiền mặt cho một nhà đầu tư dựa trên tài sản đảm bảo là cổ phiếu, với một tỷ lệ tiền mặt/giá trị cổ phiếu tối thiểu nhất định.

Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay margin, các tổ chức tài chính tại các thị trường chứng khoán phát triển thường yêu cầu tài sản cầm cố là một danh mục cổ phiếu gồm nhiều mã khác nhau. Trường hợp tài sản cầm cố là một mã cổ phiếu duy nhất sẽ bị coi là khoản vay thương mại, do các ngân hàng thương mai quản lý và chịu lãi suất cao hơn nhiều so với cho vay margin. Nhưng tại Việt Nam, việc công ty chứng khoán cấp margin cho một mã cổ phiếu hiện nay rất phổ biến.

Theo ông Hoàng Thạch Lân, Giám đốc Môi giới công ty chứng khoán MHBS, trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, cho vay margin được thực hiện miễn là nhà đầu tư có tài sản đảm bảo và việc cấp margin cho một cổ phiếu duy nhất là chuyện “rất thường xuyên” cho hầu hết mọi đối tượng nhà đầu tư.

Cách cho vay với tài sản đảm bảo là một mã cổ phiếu dẫn đến áp lực giảm giá kép mỗi khi có các thông tin tiêu cực liên quan đến cổ phiếu đó: vừa giảm giá do thông tin tiêu cực, vừa giảm giá do áp lực giải chấp. Một điểm đáng chú ý là các cổ phiếu này thường là những mã đầu cơ, có tính dẫn dắt thị trường, có thể khiến thị trường sụt giảm nhanh.

Một lãnh đạo của ngân hàng Tây Âu, chuyên cấp các khoản vay cho nhiều hãng môi giới chứng khoán ở Singapore, hiện đang xúc tiến các hoạt động tại Việt Nam nhận định “Nếu cấp margin cho một danh mục, hãng môi giới có thể bán cổ phiếu B để bù cho khoản giảm giá trị của cổ phiếu A, nhưng nếu cấp margin cho một mã duy nhất thì rất rủi ro”.

Nói về cách cho vay này, lãnh đạo một công ty chứng khoán có tiếng về hoạt động cho vay margin, trụ sở ở Hà Nội thừa nhận, đúng là những khoản cho vay với một mã cổ phiếu duy nhất phải được xem là khoản vay thương mại, do ngân hàng quản lý và chịu các điều khoản khắt khe hơn. Đặc biệt đói với trường hợp lãnh đạo các công ty niêm yết dem cổ phiếu của công ty mình đi vay margin.

” Theo quy tắc quản trị rủi ro thì những cổ phiếu này phải được đem thế chấp cho ngân hàng, nhưng những lãnh đạo này bằng nhiều cách vẫn đem thế chấp cho công ty chứng khoán để vay margin. Không loại trừ khả năng họ vay margin để tác động đến giá cổ phiều của công ty mình”, ông nói.

Cố vấn đầu tư của một quỹ Tây Âu đầu tư vào Việt Nam nhận xét “Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, mọi người đi vay rất dễ” và trong một số trường hợp, lãnh đạo các tổ chức tài chính có động cơ cá nhân trong việc cho vay. Ông nói và nêu ra một số trường hợp đổ vỡ kinh điển trên thế giới do margin.

Đơn cử là Công ty dệt Polly Peck International (PPI) của Anh cùng với CEO Asil Nadir. Từng là một hiện tượng của thị trường chứng khoán Anh, Poll có thể dễ dàng vay nợ và gọi vốn. Tuy nhiên, đến năm 1988, những nghi vấn của cơ quan quản lý về việc sử dụng vốn cổ đông của Nadir bắt đầu xuất hiện. Các điều tra bí mật cho thấy Nadir đã chuyển vốn của công ty ra nước ngoài mà không bị các ngân hàng nghi ngờ hoặc gây khó dễ. Ngay sau đó, một công ty con của Nadir đã bị khám xét công khai.

Ngày 20/9/1990, các tổ chức cho vay đang giữ cổ phiếu PPI làm tài sản thế chấp cho các khoản vay margin của Nadir đã bán tháo 10 triệu cổ phiếu ra thị trường. Ngày 21/9/1990, một tổ chức khác bán tiếp 2,6 triệu cổ phiếu PPI, theo sau là hàng triệu cổ phiếu khác bị các tổ chức cho vay bán tháo. Khi đó, người ta mới phát hiện Madir đã đi vay margin của ít nhất 10 tổ chức cho vay và nói với từng tổ chức rằng, ông ta chỉ cầm cố cổ phiếu cho duy nhất tổ chức đó. Cổ phiếu của PPI từ một công ty có tiếng trên thị trường đã biến thành giấy lộn trong vòng vài giờ.

Trước tình hình này, ông Lân kiến nghị, đã đến lúc cần công bố tổng lượng margin của từng cổ phiếu tại các công ty chứng khoán hàng tuần. Nhà đầu tư và các công ty chứng khoán cần biết tỷ lệ cổ phiếu đang được cho vay margin/cổ phiếu hiện hành.

“Hiện nay, các công ty chứng khoán mới chỉ nắm khối lượng cổ phiếu margin tại công ty mình, trong khi không thể định lượng con số thực tế trên cả thị trường. Khi cổ phiếu có tin xấu, rủi ro cục bộ sẽ biến thành rủi ro hệ thống. Nếu có con số này, công ty chứng khoán có thể xác định mức độ rủi ro để quyết định có nên cấp margin cho cổ phiếu đó hay không”, ông Lân nói.

quản trị rủi ro cổ phiếu bão giảm giá công ty việt nam chứng khoán môi giới giảm thiểu rủi ro gia thị trường chứng khoán thị trường tài sản ngân hàng

Cho vay theo chuỗi giá trị

quỹ dự phòng ifc quan trọng kinh tế thị trường chuyên gia vai trò sản xuất nông nghiệp nông dân nông thôn chi phí hoạt động biến đổi khí hậu bão ngân hàng ngành nông nghiệp gia đình chiến lược hàng hóa lựa chọn đối phó gia người nông dân đa dạng hợp tác thời tiết hạn chế công ty bảo hiểm quản trị rủi ro thiêu rụi giảm thiểu rủi ro tín dụng nền kinh tế phát triển nông nghiệp hình thức bảo hiểm

Trong những năm gần đây, Chính phủ và NHNN đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm hướng tín dụng và đầu tư vào ngành này. Cho vay tam nông luôn nằm trong những lĩnh vực được khuyến khích, ưu tiên hàng đầu.

Tiềm năng lớn, nhưng rủi ro cũng không nhỏ

article?img_id=4986452&t=1361181944956

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm cũng như biến động giá của những mặt hàng này trở thành những vấn đề nóng bỏng thực sự, nhiều quốc gia đang phải nhìn nhận lại vai trò của phát triển nông nghiệp.

Tại Việt Nam, trong những năm qua, ngành nông nghiệp luôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vai trò ấy được thể hiện đặc biệt rõ trong những thời điểm kinh tế khó khăn và nông nghiệp được xem là một trong những trụ đỡ cho nền kinh tế và an sinh xã hội.

Nông nghiệp, nông thôn, nông dân (tam nông) luôn có nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư nói chung và vốn tín dụng nói riêng để phát triển. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Chính phủ và NHNN đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm hướng tín dụng và đầu tư vào ngành này. Cho vay tam nông luôn nằm trong những lĩnh vực được khuyến khích, ưu tiên hàng đầu. Và nhận thấy tiềm năng của khu vực này, ngày càng có nhiều TCTD muốn hướng dòng vốn vào lĩnh vực này.

Theo một số thống kê, tín dụng cho lĩnh vực tam nông trong năm 2012 vừa qua vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt. Ví dụ tại An Giang, dư nợ cho vay lĩnh vực tam nông của các NHTM trên địa bàn tỉnh này đạt trên 12.565 tỷ đồng, chiếm 43,9% tổng dư nợ tính đến cuối năm 2012.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, mức độ “mặn mà” của các TCTD trong cho vay nông nghiệp, nông thôn còn rất hạn chế. Nguyên nhân có lẽ không phải vì các ngân hàng thiếu vốn hay bị các lĩnh vực khác hút hết mà có lẽ chủ yếu vì các rủi ro và đặc trưng của tam nông.

Một nghiên cứu gần đây của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) đã chỉ ra: Mật độ dân số thấp; phân tán về địa lý; hạn chế về tiếp cận thị trường và thông tin giá cả; mức độ đa dạng cây trồng thấp; sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún chính là những đặc trưng cơ bản khiến cho chi phí hoạt động và rủi ro cao hơn khi cho vay tam nông.

Bên cạnh đó, ngoài các rủi ro về thị trường, ngành nông nghiệp còn có nhiều rủi ro bất định khác như rủi ro thời tiết, rủi ro mùa vụ… Các hộ gia đình (HGĐ) nông dân thường là những đối tượng nghèo, thu nhập theo mùa vụ và rất phụ thuộc vào các yếu tố như thời tiết, thị trường…

Do đó, việc nắm rõ sự lưu chuyển tiền tệ của hộ gia đình nông thôn là yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro trong cho vay đối với các hộ gia đình nông thôn.

Cũng theo nghiên cứu của IFC, đối tượng nông dân có rủi ro thấp nhất là những người có mức đa dạng hóa cây trồng cao, làm nhiều mùa vụ trong năm và có phương tiện tưới tiêu; đối tượng rủi ro trung bình là những người có mức đa dạng cây trồng vừa phải và làm hơn một mùa vụ trong năm. Ngược lại, những đối tượng nông dân rủi ro cao là những người chỉ có nguồn thu theo mùa vụ do không hay ít đa dạng hóa cây trồng.

Lựa chọn chiến lược, cho vay phù hợp

Theo kinh nghiệm và khuyến nghị của IFC, các ngân hàng muốn thúc đẩy tín dụng nông nghiệp trước hết nên lựa chọn những khu vực có tiềm năng cao về nông nghiệp với các đặc trưng như: Có cây trồng đa dạng, triển khai được nhiều vụ mùa trong năm và có điều kiện tưới tiêu, thủy lợi nội đồng tốt. TCTD nên lựa chọn cho vay trước với những đối tượng nông dân có rủi ro thấp như đề cập ở trên.

Đồng thời, cần thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu rủi ro thị trường; quan hệ chặt chẽ với các đơn vị làm dịch vụ kỹ thuật để giảm thiểu rủi ro người vay và kết nối, hợp tác chặt chẽ với các công ty bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro thời tiết, dịch bệnh.

Ngoài ra, để tiết kiệm chi phí, cần xây dựng được cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng, triển khai các ngân hàng di động và sử dụng các đại lý tín dụng cho vay chứ không nhất thiết phải mở các chi nhánh ở mọi nơi.

Một trong các chiến lược cho vay nông nghiệp rất phổ biến và mang lại hiệu quả trên thế giới hiện nay là cho vay theo chuỗi giá trị. TCTD trên cơ sở nắm bắt được các cơ hội và rủi ro trong nông nghiệp; các phân tích và dự báo về từng thời kỳ cụ thể để lựa chọn cho vay theo các công đoạn, các khâu trong chuỗi giá trị.

Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay trước thu hoạch (gồm cho vay người cung ứng nguyên liệu đầu vào hoặc cho người nông dân trực tiếp vay) hay cho thế chấp bằng hàng hóa, động sản (cho vay thương lái và chế biến), hoặc cũng có thể dưới hình thức tài trợ thương mại (phục vụ quá trình tiêu thụ, phân phối các sản phẩm nông nghiệp).

Để giảm thiểu rủi ro, các TCTD cần xác định rõ có biện pháp đối phó với từng loại rủi ro có thể xảy ra. Đơn cử như để đối phó với rủi ro thời tiết, bên cạnh việc phải lựa chọn kỹ các vùng có mức đa dạng hóa cao, có điều kiện tưới tiêu tốt, cần có các hình thức bảo hiểm phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi.

Hay như để hạn chế rủi ro thị trường, cần hợp tác chặt chẽ với các đơn vị trong chuỗi giá trị để tăng cường tiếp cận và bám sát với nông dân; bảo đảm mức giá và dự báo tốt sản lượng mùa màng; có cơ chế duy trì vốn vay để bảo đảm nông dân thanh toán đầy đủ đúng hạn…

Mặt khác, các ngân hàng cũng cần tiến hành tốt công tác quản trị rủi ro chiến lược trong cho vay tam nông. Theo các chuyên gia IFC, thông thường cứ khoảng 5-7 năm, ngành nông nghiệp lại có một cú sốc mang tính chu kỳ.

Điều này đòi hỏi ban lãnh đạo ngân hàng cần có các cam kết dài hạn, “chung thủy” với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt trong những thời điểm xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Đồng thời TCTD cần lập quỹ dự phòng đặc biệt để đối phó với những nguy cơ mang tính chu kỳ hoặc bất thường có thể xảy ra.

Theo ông Panos – chuyên gia tài chính và quản lý rủi ro nông nghiệp của IFC, bản thân ngân hàng phải hiểu rất rõ về nông nghiệp, phân tích được các hàng hóa, chuỗi giá trị quan trọng trên thị trường nông nghiệp cũng như các rủi ro liên quan thì mới đưa ra được các chiến lược và biện pháp cho vay hiệu quả nhất trong lĩnh vực này.

“Ngân hàng cũng phải phân nhóm được đối tượng cho vay và lựa chọn các đối tượng và mắt xích phù hợp nhất với mình để cho vay ra. Bên cạnh đó, cho vay chỉ có ý nghĩa khi nó mang lại lợi ích cho cả người cho vay và người được vay. Vì vậy cho vay nông nghiệp sẽ rất hấp dẫn khi có kết nối với các cải tiến công nghệ để nâng cao được sản lượng, chất lượng hàng hóa”, chuyên gia này khuyến nghị.

thời tiết công ty bảo hiểm nông thôn gia đình chuyên gia nông nghiệp thị trường bão hàng hóa quan trọng nền kinh tế ngành nông nghiệp thiêu rụi người nông dân quỹ dự phòng phát triển hợp tác hạn chế ngân hàng lựa chọn sản xuất nông nghiệp hình thức bảo hiểm kinh tế quản trị rủi ro nông dân đa dạng tín dụng ifc đối phó gia vai trò chi phí hoạt động biến đổi khí hậu chiến lược giảm thiểu rủi ro

Chủ tịch VietinBank Phạm Huy Hùng: VietinBank sẽ xứng đáng là đơn vị Anh hùng Lao động

việt nam hiệu quả kinh doanh tăng vốn điều lệ tăng trưởng tổng tài sản khách hàng doanh nghiệp vốn điều lệ hội nhập quốc tế vietinbank kinh tế quản trị rủi ro huy động quốc tế doanh nghiệp phát triển kinh doanh hội đồng quản trị nền kinh tế năng lực tài chính thành công tài chính khó khăn ngân hàng chủ tịch nước thị trường tài chính mô hình tổ chức

QĐND –Những ngày đầu năm nay, niềm vui Xuân mới như được nhân lên bội phần với hơn 19.000 cán bộ, nhân viên Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vừa ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho đơn vị. Nhân dịp này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc đối thoại với Tiến sĩ Phạm Huy Hùng, Đại biểu Quốc hội, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị VietinBank về chặng đường đã qua cũng như hành trình sắp tới của ngân hàng.

1198067120130216152416394.jpg
Chủ tịch VietinBank Phạm Huy Hùng

Vững vàng một phần tư thế kỷ

– Thưa ông, năm 2012 vừa qua là một năm đầy biến động và khó khăn của nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên được biết, VietinBank đã không chỉ đứng vững mà còn có những bước tiến quan trọng của mình, ông có thể chia sẻ về những thành công đó?

– Đúng là năm qua, VietinBank đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, thêm nữa là việc ngành ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu. Đảng ủy, Ban lãnh đạo và toàn hệ thống VietinBank từ trụ sở chính đến các chi nhánh, công ty, đơn vị trực thuộc đã dốc sức, nỗ lực phấn đấu, phát huy tâm-tài-trí và xác định rõ, càng khó khăn càng tỏa sáng. Đồng thời đổi mới, năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường, vững vàng vượt qua khó khăn, hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng mạng lưới ra nước ngoài. Năm 2012 chúng tôi vẫn đạt được các mục tiêu khả quan như tổng tài sản tăng 9,8%, tốc độ tăng trưởng tín dụng 13,3%, nợ xấu 1,35%/tổng dư nợ, lợi nhuận tăng trưởng 0,7%, ROE 19,8%, ROA 1,6%. VietinBank cũng là ngân hàng dẫn đầu về tỷ suất lợi nhuận toàn ngành trong năm qua, cổ tức trả 16%, nộp ngân sách hơn 3000 tỷ đồng.

Không chỉ vậy, thực hiện sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, VietinBank đã liên tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất cho vay các thời điểm. Có lúc mức lãi suất cho vay chỉ cao hơn so với trần lãi suất huy động từ 1,5% đến 2% (thông thường các năm trước từ 3% đến 4%). Bên cạnh đó, chúng tôi đã triển khai nhiều gói tín dụng hỗ trợ lãi suất cho khách hàng doanh nghiệp, cá nhân trong các lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay nông nghiệp nông thôn, cho vay thu mua lúa tạm trữ… (ở mức 8-8,5%) và tiếp tục thu xếp vốn hỗ trợ hàng trăm triệu USD cho các dự án lớn, trọng điểm của các ngành kinh tế.

– Năm 2013 là năm kỷ niệm 25 năm thành lập VietinBank (1988-2013), chặng đường ¼ thế kỷ đã qua không ít sóng gió đổi thay đối với ngân hàng. Ông hãy chia sẻ về những nỗ lực để có vị thế của VietinBank hôm nay.

– Hành trình 25 năm xây dựng và phát triển của mình, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao cho, hoạt động của VietinBank luôn gắn liền với sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thúc đẩy kinh tế xã hội đất nước phát triển. Chúng tôi đã không ngừng phấn đấu, khẳng định uy tín, vị thế của VietinBank trên thị trường trong và ngoài nước. VietinBank không ngừng phát triển lớn mạnh và tiên phong trong thực hiện các trách nhiệm với xã hội, cộng đồng (năm 2012, VietinBank đã dành 1.500 tỷ đồng cho công tác xã hội). Đến nay, chúng tôi đã thực sự trở thành ngân hàng thương mại chủ lực hàng đầu tại Việt Nam, chiếm 13,5 % thị phần cho vay, 14% thị phần thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu… Năm 2007, VietinBank được cổ phần hóa và năm 2009 chính thức niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Chúng tôi hiện nay có mạng lưới trên 160 chi nhánh, hơn 1.100 chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc, hệ thống cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ hàng đầu và quan hệ vững chắc với hơn 1000 ngân hàng trên thế giới… Ngoài ra, chúng tôi cũng đã có chi nhánh ở Đức, Lào và sắp tới là Mi-an-ma và một số nước khu vực châu Âu.

8806571020130216152410925.jpg
Chủ tịch HĐQT VietinBank Phạm Huy Hùng ký kết với đại diện Ngân hàng Misubishi UFJ về việc bán 20% cổ phần của ngân hàng.

Thương vụ thế kỷ và mục tiêu vươn ra thế giới

– Vừa qua, VietinBank đã ký hết hợp đồng đầu tư chiến lược, bán 20% cổ phiếu cho Ngân hàng Misubishi UFJ (BTMU), là ngân hàng lớn nhất Nhật Bản. Đây được coi là một “thương vụ thế kỷ” của ngành tài chính Việt Nam, ông nhận định ra sao về bước đi này của VietinBank?

– Với chúng tôi, đây là thành công, dấu mốc ấn tượng nhất trong năm 2012. Hợp đồng này đã mang về cho ngân hàng số tiền 17.000 tỷ đồng (tương đương 822 triệu USD), bao gồm cả tiền BTMU sẽ sử dụng để mua cổ phiếu phát hành mới cho cổ đông năm 2013. Sau giao dịch này, VietinBank sẽ tăng vốn điều lệ, vốn tự có lên khoảng 50.000 tỷ đồng và trở thành ngân hàng thương mại có vốn điều lệ lớn nhất và cơ cấu cổ đông mạnh nhất ở Việt Nam. Giao dịch này không chỉ giúp củng cố năng lực tài chính của chúng tôi, tăng hệ số an toàn vốn (CAR) cao hơn nhiều mức yêu cầu là 9% mà còn là sự đánh dấu bước phát triển vượt bậc, nâng uy tín, vị thế tầm vóc, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế của VietinBank. Trước đó, tháng 5-2012, VietinBank cũng đã phát hành thành công 250 triệu USD trái phiếu quốc tế trên thị trường tài chính toàn cầu. Sự kiện này đã đưa VietinBank trở thành tổ chức huy động vốn hiệu quả nhất châu Á trong năm theo sự bình chọn của Tạp chí Finace Asia. Đồng thời, tạp chí danh tiếng Forbes của Mỹ cũng bình chọn VietinBank là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất nằm trong danh sách 2000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới…

– Với những thành công như vậy, năm 2013 VietinBank sẽ đặt mục tiêu phát triển ra sao thưa ông?

– VietinBank sẽ tiếp tục đi đầu trong việc thực thi các chính sách tiền tệ của Chính phủ và tăng cường đẩy mạnh huy động, khai thác các nguồn vốn nội tệ, ngoại tệ, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, giữ vững tốc độ tăng trưởng. Chúng tôi đặt mục tiêu năm 2013 tổng tài sản, tổng nguồn vốn sẽ tăng 15-20%, cho vay nền kinh tế tăng 20% và nợ xấu dưới 3%… Ngoài ra, sẽ tiếp tục thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa, quản trị tập trung, quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chuyển đổi mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh, chuẩn hóa các hoạt động nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng theo chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực tài chính, cạnh tranh, chất lượng, hiệu quả kinh doanh… Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội, cộng đồng thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa nhiều hơn nữa. Chúng tôi tin tưởng VietinBank sẽ phấn đấu, nỗ lực không ngừng để xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lao động.

– Xin cảm ơn ông!

HOÀNG GIANG – HOÀNG LÂN(thực hiện)

chủ tịch nước ngân hàng phát triển hội nhập quốc tế vietinbank tăng vốn điều lệ khách hàng doanh nghiệp kinh doanh quốc tế huy động vốn điều lệ nền kinh tế việt nam khó khăn tổng tài sản doanh nghiệp quản trị rủi ro tăng trưởng thị trường tài chính năng lực tài chính mô hình tổ chức tài chính thành công kinh tế hiệu quả kinh doanh hội đồng quản trị