Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèo

Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèoĐào tạo nghề tại Trường nghề CĐ. Ảnh: Kỳ Anh

Thường vụ Quốc hội thảo luận dự thảo Luật Việc làm:

Liệt kê hàng loạt các khoản mà một người lao động phải nộp trong lương, nào là thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, rồi giờ lại thêm bảo hiểm thất nghiệp, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước lo lắng: “Không khéo nhìn tổng lương có thể thu nhập mức trung bình, nhưng thu xong lại đẩy họ vào nhóm nghèo trong xã hội”. Ông đề nghị phải quy định “tỉ lệ phần trăm tối đa trong phần lương phải đóng góp”.

5 dự án nhưng chỉ 1 cái giếng

Vừa đi giám sát về dạy nghề cho lao động thiểu số, tiếp xúc với DN, người lao động, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước phản ánh tình trạng có quá nhiều trung tâm dạy nghề, đang phổ biến tình trạng “dạy trùng nghề, dạy nghề tràn lan”, trong khi lương trả cho bộ máy dạy nghề cũng từ ngân sách nhà nước. Tình trạng trùng lặp được Chủ tịch Hội đồng Dân tộc mô tả bằng hình ảnh “qua giám sát, 1 cái giếng thuộc 5 dự án, nhưng trên thực địa chỉ có 1 cái giếng”. Hay “một còn bò, thuộc rất nhiều dự án”.

Ông Phước đặt ra 2 vấn đề: Các DN cần được khyến khích, nhưng “nếu khuyến khích tràn lan thì sẽ mất hết. Trong khi bản chất của dạy nghề thì “dịch vụ rất nhiều trong khi hỗ trợ thì không rõ nét”.

Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính cũng băn khoăn về quy định hỗ trợ DN đào tạo nâng cao kỹ năng nghề vì lý do suy thoái kinh tế. Theo ông, hiện có hàng chục ngàn DN ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế. Nếu chúng ta hỗ trợ thế này thì Quỹ thất nghiệp chưa chắc đã đảm bảo được. Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN đề xuất: “Cần có cơ chế kiểm tra giám sát để tránh việc lạm dụng sự hỗ trợ này”.

Về vấn đề chi trả, hỗ trợ người lao động thất nghiệp, theo ông Chính, các huyện đều có cơ quan BHXH và nên để họ chi trả, vừa giảm thủ tục hành chính, vừa đỡ cho người lao động “phải đi rất xa đến cơ quan BHXH”.

Có thể mang quỹ quốc gia đi đầu tư?

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của QH Phùng Quốc Hiển phân tích, trong dự thảo luật có rất nhiều quy định sự hỗ trợ, với rất nhiều đối tượng từ thanh niên đến người nghèo. Chẳng hạn đối tượng “thanh niên”, hằng năm có tới 1,6 triệu người được “bổ sung” vào diện “thanh niên”. Ông đặt câu hỏi “nhưng như thế, ngân sách nhà nước phải đảm đương bao nhiêu hằng năm?”.

Liên quan đến việc sử dụng Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, thống nhất với quan điểm ngoài việc đóng góp thì quỹ cần phải sinh lời, thậm chí “việc gửi tiền vào các ngân hàng để sinh lời thì thôi cũng được”, tuy nhiên Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách lo lắng việc cho phép đầu tư vào các công trình “do Chính phủ quy định” hay cho vay, thì cần lưu ý. Cho vay dưới hình thức nào? Cho vay phát hành tín phiếu, trái phiếu có được không? Nếu mở rộng quá sẽ không đảm bảo an toàn của quỹ. Thực tế, nhiều khoản đầu tư không hiệu quả đâu – ông nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Phan Trung Lý thì đặt vấn đề với quy định hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp giao cho Bộ LĐTBXH quy định. “Vì sao lại không quy định trong luật? – ông Lý đặt câu hỏi, đồng thời khẳng định, vấn đề này cần minh bạch”. Ông cũng chỉ ra: Luật Việc làm có 21/63 điều, tức 1/3 số điều giao Chính phủ quy định là quá lớn, cần xem lại vì đây là những điều liên quan trực tiếp đến người lao động.

Dự kiến, dự thảo Luật Việc làm sẽ được đưa ra QH vào kỳ họp thứ sáu.

“Doanh nghiệp dịch vụ việc làm hoạt động theo Luật DN, nhưng thực tế có lúc chúng ta không kiểm soát được. Nhiều trường hợp đối tượng trước chúng ta gọi là “cò” đến Sở KHĐT xin cấp phép, xin quỹ và những doanh nghiệp như thế một ngày tìm được 100 lao động thôi đã kiếm được 2 triệu bạc. Vì vậy, cần phải tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực này” – Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính nói.

Từ khoá: bảo hiểm thất nghiệp thủ tục hành chính bão bảo hiểm xã hội người lao động thanh niên dự thảo quy định nhà nước việc làm luật việc làm quản lý nhà nước lao động suy thoái kinh tế bảo hiểm

Advertisements

Hướng dẫn hỗ trợ lãi suất vay mua tạm trữ thóc gạo

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 109/2013/TT-BTC hướng dẫn về việc hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản này là các thương nhân thực hiện mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013 được Hiệp hội Lương thực Việt Nam phân giao theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 850/QĐ-TTg.

Thông tư có hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc xem xét hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; hồ sơ, thủ tục hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; trách nhiệm của tổ chức, cơ quan Nhà nước có liên quan đến việc hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng để mua tạm trữ thóc, gạo; tổ chức kiểm tra việc hỗ trợ lãi suất vay mua tạm trữ.

Theo quy định, việc hỗ trợ lãi suất tiền vay mua thóc, gạo tạm trữ chỉ thực hiện đối với các khoản vay từ ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ định theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 850/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các khoản vay được hỗ trợ lãi suất là các khoản vay trả nợ trước và trong hạn tại thời điểm hỗ trợ lãi suất, không thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay quá hạn.

Số lượng thóc, gạo được hỗ trợ lãi suất cho từng thương nhân theo số lượng thóc, gạo thực tế thương nhân mua tạm trữ nhưng không được vượt quá số lượng quy định tại các văn bản phân giao chỉ tiêu mua tạm trữ thóc, gạo vụ Hè Thu năm 2013 của Hiệp hội Lương thực Việt Nam và đảm bảo tổng số thóc, gạo mua tạm trữ không được vượt quá một triệu tấn quy gạo theo quy định. Loại thóc, gạo mua tạm trữ gồm thóc, gạo thường và thóc, gạo thơm. Thời hạn mua tạm trữ từ ngày 15/6 vừa qua đến hết ngày 15/8.

Thời gian được hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng là thời gian tạm trữ thực tế tính từ thời điểm mua thóc, gạo theo quy định tại khoản 6 Điều này đến thời điểm bán thóc, gạo tạm trữ nhưng không quá thời hạn ngày 15/9 tới. Giá để tính hỗ trợ lãi suất là giá mua thực tế theo giá thị trường (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) cho từng loại thóc, gạo. Căn cứ để xác định giá mua thực tế theo giá thị trường là hợp đồng mua bán, thanh lý hợp đồng, phiếu nhập kho hàng hóa, hóa đơn mua hàng, chứng từ chuyển tiền hoặc các chứng từ có liên quan khác do thương nhân xuất trình.

Lãi suất hỗ trợ là lãi suất các thương nhân vay ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng nhưng tối đa không vượt quá 10%/năm theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại công văn số 4142/NHNN-TD ngày 12/6/2013. Khoản hỗ trợ lãi tiền vay ngân hàng từ ngân sách nhà nước đối với số thóc, gạo thu mua tạm trữ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ được hạch toán vào khoản thu nhập khác trong kỳ của thương nhân và chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định, trong thời gian 15 ngày làm việc, Bộ Tài chính thẩm định hồ sơ và làm thủ tục hỗ trợ lãi suất cho thương nhân. Trường hợp thương nhân chưa cung cấp đầy đủ hồ sơ hoặc không đủ điều kiện được hỗ trợ lãi suất thì Bộ Tài chính sẽ có văn bản yêu cầu thương nhân bổ sung hồ sơ theo quy định hoặc thông báo cho thương nhân biết lý do không được xem xét hỗ trợ lãi suất.

Tại văn bản đề nghị bổ sung hồ sơ, Bộ Tài chính phải quy định cụ thể thời gian để thương nhân hoàn chỉnh hồ sơ. Tổng Công ty Lương thực miền Bắc và Tổng Công ty Lương thực miền Nam hướng dẫn các đơn vị thành viên lập hồ sơ hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng và tổng hợp chung theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư này gửi Bộ Tài chính. Tổng công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu đã tổng hợp.

Sau khi nhận được kinh phí hỗ trợ do Bộ Tài chính cấp về tài khoản Tổng công ty, trong thời gian 5 ngày làm việc Tổng công ty thực hiện cấp lại cho các đơn vị thành viên. Đối với các thương nhân khác: Bộ Tài chính tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ hỗ trợ lãi suất sau khi kết thúc thời gian tạm trữ và cấp phát hỗ trợ kinh phí thông qua tài khoản của thương nhân.

Kết thúc thời gian tạm trữ, Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra việc lập hồ sơ hỗ trợ lãi suất để mua thóc, gạo tạm trữ của thương nhân. Việc kiểm tra phải thông báo cho thương nhân bằng văn bản trước khi kiểm tra. Kết thúc kiểm tra phải lập Biên bản kiểm tra trong đó nêu rõ tình hình thực hiện, tồn tại vướng mắc và kiến nghị giải pháp.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/8./.

(TTXVN)

Từ khoá: tài chính ngân hàng kiểm tra nhà nước vượt qua gia quy định công ty bộ tài chính thông tư thuế thu nhập doanh nghiệp hợp đồng

Hàng nghìn lao động bị chủ nước ngoài quỵt lương

ANTĐ – Theo Bộ KH-ĐT, hiện cả nước có 518 doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “vắng chủ”. Tình trạng này khiến hàng nghìn lao động bị mất việc làm, nợ lương và Nhà nước bị thất thu thuế…

Hậu kiểm chặt chẽ doanh nghiệp FDI sẽ hạn chế được nhiều thiệt hại (ảnh minh họa)

Trên 500 doanh nghiệp FDI vắng chủ

Bộ KH-ĐT cho biết, số lượng doanh nghiệp FDI không còn hoạt động tại trụ sở đăng ký, chủ đầu tư bỏ về nước hoặc không thể liên lạc được gia tăng đáng kể trong thời gian qua. Trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ như: quản lý doanh nghiệp, xây dựng, bất động sản, thương mại, phần mềm, ăn uống, nhà hàng… Số còn lại là các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất. Phần lớn những doanh nghiệp này do chủ đầu tư Hàn Quốc, Trung Quốc thực hiện, có quy mô nhỏ (dưới 500.000 USD) và thuê lại nhà xưởng của các nhà đầu tư khác mà không có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.

Tính đến hết ngày 31-5, trên cả nước có 518 doanh nghiệp FDI vắng chủ, với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 903,11 triệu USD. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ, không trả được lương cho người lao động, không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và thanh toán các khoản nợ của đối tác, khách hàng nên buộc phải đóng cửa, ngừng kinh doanh. Mặt khác, do thủ tục chấm dứt hoạt động, thanh lý và giải thể doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thường mất thời gian, tốn chi phí nên nhiều nhà đầu tư đã bỏ về nước, không thực hiện các thủ tục để chấm dứt các hoạt động.

Theo Bộ KH-ĐT, việc chủ doanh nghiệp bỏ về nước đã gây ra tác động khác nhau về kinh tế – xã hội, trật tự quản lý nhà nước và môi trường như: người lao động bị mất việc làm, bị nợ lương và các chế độ theo quy định; Nhà nước bị thất thu ngân sách do không thu được thuế còn nợ đọng, bảo hiểm xã hội và các nghĩa vụ tài chính khác. Ngoài ra, các dự án đóng cửa gây lãng phí tài nguyên đất đai.

Hiện tại, chưa có thống kê nào cụ thể về số lượng lao động bị mất việc làm, ảnh hưởng do doanh nghiệp FDI “vắng chủ”. Nhưng điều dễ nhận thấy nhất trong các dự án này là doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Một số doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động gây ra hậu quả lớn về mặt xã hội.

Người lao động chịu thiệt hại nặng nề khi các chủ đầu tư “biến mất” (Ảnh minh họa)

Hậu quả lâu dài

Các chuyên gia của Bộ KH-ĐT cho biết, giải quyết khó khăn cho người lao động tại doanh nghiệp FDI “vắng chủ” rất phức tạp. Ngày 23-2-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30-TTg về chính sách hỗ trợ cho người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, Quyết định này đã hết hiệu lực từ năm 2010. Bởi vậy, Bộ KH-ĐT đề nghị tiếp tục thực hiện hỗ trợ người lao động. Cụ thể, trích ngân sách địa phương để ứng trả cho người lao động khoản lương bị nợ của doanh nghiệp FDI “vắng chủ”. Khoản tạm ứng này sẽ được hoàn trả khi thực hiện xử lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị cho phép UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động hỗ trợ người lao động bị mất việc làm trong doanh nghiệp FDI này từ nguồn ngân sách địa phương.

Bên cạnh việc giải quyết hậu quả về người lao động, đối với các doanh nghiệp FDI này, cơ quan quản lý cũng gặp trở ngại khi muốn tiến hành thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư vì pháp luật hiện hành chưa có quy định. Mặt khác cũng không thể giải thể doanh nghiệp khi chưa đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và các nghĩa vụ khác cũng như khi vắng mặt chủ doanh nghiệp.

Sắp tới, các căn cứ pháp lý liên quan đến việc xử lý doanh nghiệp “vắng chủ” sẽ được bổ sung, hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về giải pháp cho vấn đề này. Bộ KH-ĐT đang phối hợp với các cơ quan liên quan tìm cách liên lạc với chủ đầu tư các dự án theo địa chỉ của nhà đầu tư tại nước ngoài theo thông tin đăng ký với cơ quan nhà nước tại Việt Nam để yêu cầu nhà đầu tư giải quyết các vấn đề tồn đọng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tăng cường công tác hậu kiểm, giám sát đối với các doanh nghiệp FDI nhằm tránh tình trạng tồn đọng, kéo dài nợ thuế và bảo hiểm xã hội.

Vân Hằng

Từ khoá: nghĩa vụ bảo hiểm người lao động bảo hiểm xã hội giấy chứng nhận quản lý doanh nghiệp doanh nghiệp nhà nước bão quản lý nhà nước quy định giải quyết việc làm đồng bảo hiểm doanh nghiệp xây dựng lao động bất động sản pháp luật thủ tục

Việt Nam nâng cấp nhà máy in tiền quốc gia

Ngân hàng Nhà nước vừa phát đi thông tin về việc khởi công dự án mở rộng nhà máy in tiền quốc gia, dự kiến sẽ đi vào hoạt động từ năm 2015.

Ông Đào Minh Tú – Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, dự án này sẽ mở rộng nhà xưởng, đầu tư máy móc, thiết bị cho nhà máy in tiền quốc gia nhằm nâng cao năng lực sản xuất, đảm bảo đáp ứng được nhiệm vụ trong thời gian trước mắt. Theo tiết lộ từ Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, dự án sẽ hoàn thành cuối năm 2014 và đi vào hoạt động từ năm 2015.

Hiện tại, nhà máy in tiền quốc gia nằm ở phố Phạm Văn Đồng (Hà Nội) có nhiệm vụ in đúc tiền, được chuyển thành mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu từ tháng 8/2010. Tính đến thời điểm trước khi chuyển đổi mô hình hoạt động, vốn điều lệ của nhà máy in tiền quốc gia là hơn 720 tỷ đồng.

Tính đến thời điểm này, nhà máy in tiền quốc gia đã hoạt động, sản xuất được hơn 20 năm nên cơ sở vật chất, kho tàng máy móc đều xuống cấp. Do đó, theo ông Đào Minh Tú, việc mở rộng nhà xưởng và nâng cấp trang thiết bị là cần thiết để đảm bảo an ninh, tiền tệ quốc gia.

L.A

Theo Infonet

Từ khoá: nhà nước mở rộng nhà máy gia trang thiết bị vốn điều lệ

Huy động trên 126.000 tỉ đồng bằng Trái phiếu Chính phủ

(Tin Nóng) Theo báo cáo của Kho bạc Nhà nước (KBNN), tính từ đầu năm đến ngày 18.7, KBNN huy động Trái phiếu Chính phủ (TPCP) với tổng số 126.481,6 tỉ đồng, đạt 65,5% kế hoạch được giao.

Trong đó, trái phiếu đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước đạt 22.693,1 tỉ đồng; Trái phiếu đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội đạt 100.288,5 tỷ đồng và Trái phiếu bảo lãnh phát hành trong tháng 7 thực hiện 1.500 tỉ đồng.

Vốn đầu tư giải ngân qua hệ thống KBNN ước thực hiện 7 tháng đầu năm nay là 120.678,7 tỉ đồng, đạt 49% kế hoạch vốn năm 2013 nhà nước giao (bao gồm cả số tạm ứng), trong đó, giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 80.242,4 tỉ đồng, đạt 48% kế hoạch; giải ngân vốn TPCP ước đạt 27.336,3 tỉ đồng đạt 49% kế hoạch.

Mai Phương

>> Năm 2013, thị trường trái phiếu sẽ “hút hàng

>> Huy động hơn 200.000 tỉ đồng qua trái phiếu Chính phủ

Từ khoá: kế hoạch động đất nhà nước thị trường trái phiếu

Các ngân hàng đang ‘khỏe’ nhất trong 13 tháng

Tổng tài sản, vốn tự có và vốn điều lệ của các ngân hàng đều tăng mạnh, trong đó mức tăng dẫn đầu ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố số liệu về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trong hệ thống, cập nhật đến ngày 31/5/2013. Theo đó, tổng tài sản, vốn điều lệ và vốn tự có của các ngân hàng đều tăng mạnh so với tháng 4 và đầu năm, đồng thời đang ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2012 – thời điểm NHNN bắt đầu công khai các số liệu “quý hiếm” này theo Thông tư số 35/2011.

Tổng tài sản vượt 5,2 triệu tỷ

Số liệu cho thấy, tổng tài sản của các tổ chức tín dụng (gồm các Ngân hàng thương mại Nhà nước -NHTMNN; ngân hàng thương mại cổ phần – NHTMCP; ngân hàng liên doanh, nước ngoài; công ty tài chính, cho thuê; quỹ tín dụng Trung ương) đã lên đến hơn 5,2 triệu tỷ đồng, sau khi tăng hơn 41.500 tỷ đồng trong tháng 5. Tuy nhiên, mức tăng này chỉ đến từ nhóm NHTMNN với 45.350 tỷ đồng và nhóm các ngân hàng liên doanh, nước ngoài với 132 tỷ đồng. Tổng tài sản của nhóm các NHTMCP giảm nhẹ 34 tỷ trong khi của các công ty tài chính, cho thuê giảm hơn 3.100 tỷ.

So với cuối năm 2012, tổng tài sản của toàn hệ thống tăng thêm gần 140.000 tỷ, tương đương 2,74%, với mức tăng chủ yếu đến từ các NHTMNN gần 64.000 tỷ đồng (2,9%), của NHTMCP hơn 22.500 tỷ (1,04%) và của các ngân hàng liên doanh, nước ngoài gần 54.000 tỷ (9,7%). Tính đến hết tháng 5, tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đã có 3 tháng tăng liên tiếp là tháng 3, 4, 5, sau 2 tháng sụt giảm trước đó.

Tăng trưởng tổng tài sản của các tổ chức tín dụng 5 tháng đầu năm.

Vốn tự có tăng lần đầu tiên kể từ đầu năm

Không chỉ có tổng tài sản mà vốn tự có của các ngân hàng cũng tăng đáng kể trong tháng 5 vừa qua lên trên 437.000 tỷ đồng, so với gần 419.000 tỷ đồng hồi cuối tháng 4. Dẫu vậy, cũng như tổng tài sản, vốn tự có chỉ tăng mạnh và chiếm áp đảo ở nhóm NHTMNN với hơn 17.200 tỷ đồng lên trên 153.000 tỷ. Nhóm các NHTMCP chỉ tăng vốn tự có đượ chơn 1.000 tỷ, lên trên 176.200 tỷ.

So với cuối năm 2012, vốn tự có của các NHTMNN tăng được hơn 15.800 tỷ trong khi của các NHTMCP giảm gần 6.900 tỷ. Vốn tự có của toàn hệ thống tăng tổng cộng hơn 11.300 tỷ trong 5 tháng qua. Tháng 5 cũng là tháng đầu tiên vốn tự có của các ngân hàng tăng trở lại, sau khi sụt giảm liên tục trong 4 tháng trước đó.

Tăng trưởng vốn tự có của các tổ chức tín dụng 5 tháng đầu năm.

Vốn điều lệ tăng hơn 6.400 tỷ

Tháng 5 cũng ghi nhận việc tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng chuyển biến mạnh nhất kể từ đầu năm, khi nhóm NHTMNN (bao gồm cả Vietcombank và Vietinbank) tăng được hơn 6.400 tỷ so với cuối tháng 4. Các nhóm tổ chức tín dụng khác trong khi đó hầu như không thay đổi vốn điều lệ. So với cuối năm 2012, vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng tăng chưa đầy 8.000 tỷ, tương đương 2,03%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tăng

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các tổ chức tín dụng đạt 14,25% tại thời điểm cuối tháng 5, trong đó cao nhất thuộc về quỹ tín dụng Trung ương với hơn 37%, tiếp đến là nhóm các ngân hàng liên doanh, nước ngoài với gần 30%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các NHTMCP cao hơn so với của các NHTMNN, ở mức gần 13%.

Về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động trên thị trường 1, các NHTMCP đang có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 76%, trong khi của nhóm NHTMNN là 95,6% và của toàn hệ thống là 87%.

Nguyên nhân khiến cho tỷ lệ này yếu ở các NHTMCP là do nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc đẩy nguồn vốn ra ngoài bởi sức hấp thụ vốn của doanh nghiệp không mạnh và lãi suất còn cao, trong khi cũng có nhà băng hạn chế cho vay vì e ngại nợ xấu.

Theo CafeF/Trí Thức Trẻ

Từ khoá: vốn điều lệ tài sản nhà nước tăng vốn điều lệ ngân hàng an toàn tín dụng liên doanh tổng tài sản

Bán gần hết 26.000 lượng vàng trong phiên đấu thầu ngày 22/7

avatar.aspx?ID=77076&at=0&ts=177&lm=635101679962130000

Ảnh minh họa.(eFinance Online) – Ngày 22/7, Ngân hàng Nhà nước đã bán ra 25.900 lượng vàng trên tổng số 26.000 lượng chào bán.

Có 14/19 đơn vị trúng thầu 25.900 lượng với giá từ 37,87 – 37,95 triệu đồng/lượng.

Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, tính từ ngày 28/3 đến 22/7, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 45 phiên đấu thầu bán vàng miếng với tổng khối lượng trúng thầu là 1.219.500 lượng trên tổng số 1.322.000 lượng chào thầu.

Sau phiên đấu thầu, giá vàng SJC niêm yết tại TP.Hồ Chí Minh mua vào là 37,84 triệu đồng/lượng, bán ra là 38,24 triệu đồng/lượng. Còn tại Hà Nội, giá vàng SJC mua vào là 37,84 triệu đồng/lượng, bán ra là 38,26 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới là 1318,8 USD/oz, tỷ giá USD/VND là 21.246 đồng/lượng, thì giá vàng quy đổi ra VND là 33,76 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới là 4,5 triệu đồng/lượng.

(HTH)

Từ khoá: gia ngân hàng nhà nước

Cấm can thiệp, lợi dụng quyền, tiêu cực trong đặc xá

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tiêu cực trong đợt đặc xá 2/9 tới, nếu phát hiện vi phạm sẽ xử lý nghiêm.

Sáng 29/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá đã chủ trì Hội nghị triển khai công tác đặc xá năm 2013; sơ kết một năm thực hiện Nghị định 80/CP của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; tổng kết công tác điều tra, khảo sát tình hình người chấp hành xong án phạt tù về cư trú ở các địa phương từ năm 2002-2012.

Đại tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an cùng đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương tham dự Hội nghị.

Thực hiện công tác đặc xá bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ: Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người phạm tội không chỉ là nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng mà còn phát huy truyền thống nhân văn, nhân đạo của dân tộc trong việc khoan hồng đối với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội và ăn năn hối cải. Đồng thời, mở cho họ con đường tái hòa nhập cộng đồng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Quán triệt sâu sắc chính sách này của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù theo Luật Đặc xá, ngày 20/7 vừa qua, Chủ tịch nước đã có Quyết định về đặc xá năm 2013, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc khánh 2/9.

Cũng theo Phó Thủ tướng, trong những năm qua, cùng với việc thực hiện công tác đặc xá, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80 ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Bộ Công an cùng các bộ, ban, ngành liên quan đã chủ động tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo thực hiện hiệu quả việc bảo đảm các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, giúp họ sống lương thiện, có ích cho xã hội, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh: thời gian qua, công tác đặc xá và việc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù được các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ và đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Để thực hiện nghiêm, đạt hiệu quả cao công tác đặc xá năm 2013, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần căn cứ Luật Đặc xá, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Chủ tịch nước và Hướng dẫn của Hội đồng tư vấn đặc xá khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện công tác đặc xá năm nay, bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, đúng người, đúng tiêu chuẩn và đúng quy định của pháp luật. Các ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao làm tốt công tác tham mưu cho Hội đồng tư vấn đặc xá để triển khai kịp thời, có hiệu quả công tác đặc xá năm 2013.

Phó Thủ tướng yêu cầu các ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án triển khai việc xét duyệt đặc xá từ cấp cơ sở phải bảo đảm đúng quy định, khách quan, vô tư. Các cơ quan tham gia Hội đồng đặc xá, nhất là cơ quan tố tụng cần đề cao trách nhiệm, phối hợp thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình xét, duyệt từ cấp cơ sở.

Các bộ, ngành có liên quan cần triển khai có hiệu quả việc thi hành các quy định của Luật thi hành án hình sự về việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo và giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cũng như miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại cho những người đã thực sự tiến bộ; chú trọng công tác tuyên truyền sâu rộng trong toàn xã hội để nhân dân hiểu và ủng hộ chủ trương đặc xá năm 2013.

Đối với thực hiện Nghị định 80 của Chính phủ, Phó Thủ tướng đề nghị: Bộ Công an khẩn trương hoàn thiện Đề án về hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù để sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt; đồng thời cần chủ động, phối hợp với các cơ quan liên quan làm tốt công tác tiếp nhận, quản lý, giáo dục và giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù khi về địa phương, nhất là việc tạo cơ hội việc làm, ổn định cuộc sống, hạn chế các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tái phạm.

Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an và các ngành liên quan có hướng dẫn chi tiết để thực hiện quy định của Nghị định 80 về các thủ tục liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người chấp hành xong án phạt tù. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công an thống nhất và sớm ban hành quy định về lập, quản lý cũng như sử dụng Quỹ hòa nhập cộng đồng, bảo đảm chặt chẽ, đúng mục đích, đối tượng và hiệu quả.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cần thực hiện tốt các Dự án dạy nghề cho phạm nhân tại các trại giam để những người chấp hành xong án phạt tù có cơ hội tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống và hạn chế tái vi phạm pháp luật. Cấp ủy và Ủy ban Nhân dân các cấp quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn tạo điều kiện để những người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá có việc làm ổn định cuộc sống.

Chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người lầm lỡ

Tại Hội nghị, Thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an, Ủy viên thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá đã Công bố Quyết định về đặc xá năm 2013 của Chủ tịch nước và quán triệt nội dung công tác đặc xá năm nay.

Theo Quyết định của Chủ tịch nước, đối tượng đặc xá năm nay bao gồm: người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý.

Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phát tù được đề nghị đặc xá phải có các điều kiện như đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là mười bốn năm đối với án phạt tù chung thân, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù.

Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác, trừ những phạm nhân không bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng đã 70 tuổi trở lên hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực hiện…

Quyết định của Chủ tịch nước cũng quy định rõ các trường hợp không đề nghị đặc xá như bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; trước đó đã được đặc xá; có từ hai tiền án trở lên; phạm tội tất nghiêm trọng hoặc đặt biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia.

Các trường hợp khác cũng không được đề nghị đặc xá như phạm các tội về ma túy bị phạt tù đến bảy năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên bảy năm đến 12 năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên hai năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm. Trường hợp phạm hai tội giết người và cướp tài sản, giết người và hiếp dâm, giết người và hiếp dâm trẻ em, cướp tài sản và hiếp dâm, cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em; phạm tội giết người có tổ chức, hiếp dâm có tính chất loạn luân, cướp tài sản có sử dụng vũ khí…

Về kết quả bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, báo cáo của Bộ Công an nêu rõ: đến nay, đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và đông đảo người dân, góp phần quan trọng trong phòng ngừa tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác, đã tăng cường về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và của toàn xã hội đối với việc giúp đỡ những người lầm đường, lỡ bước quay lại tái hòa nhập công động. Đến nay, Công an các địa phương đã tiến hành xong công tác điều tra, khảo sát, có gần 300.000 người được khảo sát trên tổng số hơn 425.660 người chấp hành xong án phạt tù.

Nhân dịp này, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã công bố kỷ lục Việt Nam về cuộc thi viết tự truyện “Sự hối hận và niềm tin hướng thiện” và “Sự hồi sinh từ trong tuyệt vọng” cho Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp./.

Nguyễn Cường (TTXVN)

Từ khoá: công an trách nhiệm thời hạn quy định ổn định triển khai nhà nước nghiêm trọng tiền bồi thường quyết định bão bộ tài chính doanh nghiệp hiệu quả an ninh trật tự vi phạm tài sản việc làm thủ tướng gia bệnh hiểm nghèo lợi dụng chức vụ cộng đồng chính phủ chủ tịch nước xử lý nghiêm việt nam nghị định

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Nhấn mạnh 5 vấn đề trọng tâm

Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI,

> Khai mạc Đại hội XI Công đoàn Việt Nam

> Khắc phục bệnh quan liêu trong hoạt động công đoàn

TP – Sáng 28/7, Đại hội lần thứ XI Công đoàn Việt Nam (nhiệm kỳ 2013-2018) với chủ đề “Đoàn kết – Trí tuệ – Dân chủ – Đổi mới” đã chính thức khai mạc tại Hà Nội.

Tham dự Đại hội có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm cùng nhiều đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đại diện các đoàn khách quốc tế… và 944 đại biểu chính thức đại diện cho gần 8 triệu công nhân viên chức lao động trong cả nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng. Tiền Phong trích đăng bài phát biểu này (Toàn văn bài phát biểu xin xem trên Tienphong.vn).

Tôi đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2013 – 2018 do Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khoá X trình Đại hội, đặc biệt là về mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, các giải pháp lớn. Chỉ xin nhấn mạnh, gợi mở thêm một số vấn đề để Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định.

Một là, Đại hội đại biểu lần thứ XI của Công đoàn Việt Nam diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết Trung ương 7 khoá XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Đây là dịp để Đại hội bàn và tìm giải pháp xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh. Vì vậy, các đồng chí cần nắm vững và quán triệt thật sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ mới; các nghị quyết của Trung ương Đảng; nắm bắt tình hình và các nguyện vọng chính đáng của công nhân để tham mưu cho Đảng, Nhà nước có những chính sách, biện pháp cụ thể đưa các quan điểm, tư tưởng, chủ trương của Đảng vào cuộc sống.

Hai la, Công đoàn cần chăm lo làm tốt hơn nữa nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, đất nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có rất nhiều yêu cầu mới, vấn đề mới đặt ra, đòi hỏi đội ngũ công nhân, lao động phải nâng mình lên một tầm cao mới – tầm cao không chỉ về lao động có trí tuệ và sáng tạo, mà cả về sự nhận thức vai trò, vị trí chính trị to lớn của giai cấp công nhân – giai cấp làm chủ vận mệnh của đất nước, lại đang có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng ngày càng trí thức hoá. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, giai cấp công nhân nước ta tuy còn nhỏ bé, nhưng với những phẩm chất chính trị và truyền thống cách mạng kiên cường, lại có đội tiên phong là Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân vẫn là và sẽ tiếp tục là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Lịch sử hơn ba phần tư thế kỷ qua chứng minh rằng giai cấp công nhân Việt Nam luôn luôn đứng ở trung tâm các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, kế thừa và làm rạng rỡ thêm truyền thống của dân tộc.

Tất cả mọi công nhân, lao động dù làm việc ở loại hình doanh nghiệp nào cũng đều với tư thế và tư cách là chủ nhân của đất nước, của xã hội, tuân theo pháp luật và có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân, được pháp luật bảo vệ.

Tổng Bí thư

Nguyễn Phú Trọng

Để xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh, trước hết cần quan tâm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trình độ các mặt của giai cấp công nhân, đào tạo cán bộ xuất thân từ công nhân, chăm lo lợi ích thiết thân của đội ngũ công nhân, lao động, nhất là về giải quyết việc làm, nhà ở, thu nhập, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách xã hội khác. Chủ động phối hợp với các cấp chính quyền quan tâm đào tạo, đào tạo lại để công nhân, lao động có thể tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và tri thức mới. Tạo ra một phong trào học tập sôi nổi, thiết thực và hiệu quả trong công nhân, lao động, nhất là thế hệ trẻ; học tập gắn liền với lao động sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ mới, tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Các cấp công đoàn cần chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục, giúp công nhân, viên chức, lao động nâng cao nhận thức về giai cấp, về Đảng, về tổ chức Công đoàn, phát huy lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lao động cần cù, sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và khối đại đoàn kết dân tộc. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Công đoàn càng phải làm tốt vai trò là người đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công nhân, lao động. Chủ động tham gia thương lượng với người sử dụng lao động và tổ chức tốt việc ký kết, thực hiện thỏa ước lao động tập thể, giải quyết tốt các tranh chấp lao động, tham gia xây dựng phương án sắp xếp lại sản xuất, kinh doanh, đổi mới tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp, trước hết là doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tham gia rà soát, xây dựng định mức lao động, nhất là ở những đơn vị cổ phần hoá, sắp xếp lại hoặc giải thể. Chú trọng tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh các hoạt động xã hội, tạo điều kiện để công nhân, lao động thực hiện được quyền làm chủ của mình.

Ba là,Công đoàn cần chủ động phối hợp với chính quyền phát động sâu rộng và tổ chức các phong trào hành động cách mạng trong công nhân, lao động. Động viên đông đảo công nhân, lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, đi đầu trong các phong trào thi đua phát triển kinh tế – xã hội. Phải liên tục đổi mới nội dung và hình thức tổ chức các phong trào thi đua phù hợp với đặc điểm ngành, địa phương và cơ sở, hướng phong trào thi đua vào mục tiêu “năng suất – chất lượng – hiệu quả”, “việc làm – đời sống – dân chủ và công bằng xã hội”, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống công nhân, lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành và địa phương.

Sự tham gia của Công đoàn, của công nhân và lao động vào phát triển kinh tế – xã hội, quản lý nhà nước, quản lý xã hội là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội, là một trong những nội dung nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội ta. Công đoàn cần chủ động tham gia và bảo vệ, tạo mọi điều kiện để công nhân, lao động có quyền chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh và được hưởng lợi xứng đáng với những đóng góp của mình khi tham gia các công việc của doanh nghiệp.

Ngày nay, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, ở nước ta có nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh, trong đó có cả kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tất cả mọi công nhân, lao động dù làm việc ở loại hình doanh nghiệp nào cũng đều với tư thế và tư cách là chủ nhân của đất nước, của xã hội, tuân theo pháp luật và có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân, được pháp luật bảo vệ. Tôi đề nghị các tổ chức Công đoàn cần nhận thức sâu sắc vấn đề này để tuyên truyền, giáo dục trong đội ngũ công nhân,

lao động.

Bốn la, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn cần đẩy mạnh việc xây dựng tổ chức, kiện toàn đội ngũ cán bộ và cải tiến phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu mới. Chăm lo xây dựng, củng cố tổ chức Công đoàn, làm cho Công đoàn không ngừng lớn mạnh, thật sự là tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quần chúng rộng lớn của công nhân, lao động, đại diện cho sức mạnh, tài năng, trí tuệ và lợi ích của công nhân, lao động. Cần phải đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng và tăng cường các hoạt động xã hội để tập hợp, động viên được đông đảo công nhân, lao động trong tất cả các thành phần kinh tế. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các cấp công đoàn, đặc biệt là công đoàn cơ sở, theo phương châm “vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, vì sự phát triển bền vững của đất nước”. Khắc phục tình trạng xơ cứng, hành chính hoá trong hoạt động công đoàn. Đẩy mạnh việc thành lập tổ chức Công đoàn ở khu vực kinh tế tư nhân, liên doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, lao động, đồng thời là chỗ dựa tin cậy để phát huy vai trò làm chủ của công nhân,

lao động.

Trong giai đoạn hiện nay, công nhân, lao động nước ta có trình độ nhận thức chính trị, trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật, trình độ hiểu biết về mọi mặt ngày càng cao; tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng cũng ngày càng đa dạng. Cho nên công tác vận động, thuyết phục, hình thức công tác của tổ chức Công đoàn cũng phải được thường xuyên đổi mới, phong phú hơn, sinh động, hấp dẫn hơn, phù hợp và thiết thực với từng đối tượng, tránh máy móc, đơn giản, tẻ nhạt; khắc phục tình trạng quan liêu, xa cơ sở, xa đoàn viên, người lao động. Cán bộ Công đoàn là những cán bộ chính trị, hoạt động xã hội, làm công tác vận động quần chúng, từ phong trào quần chúng mà ra, được bồi dưỡng và trưởng thành từ thực tế lao động, sản xuất, kinh doanh. Trước yêu cầu mới, cần đặc biệt coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, giúp họ chẳng những có lập trường chính trị vững vàng, có nhiệt tình công tác mà còn phải có hiểu biết về văn hoá, khoa học và năng lực chuyên môn, có tác phong quần chúng, có kiến thức và phương pháp vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu hoạt động công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Năm là, Công đoàn cần làm tốt công tác xây dựng Đảng tại các cơ quan, tổ chức của mình theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và các nghị quyết của Trung ương Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; đồng thời tích cực tham gia xây dựng Đảng nói chung cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bởi vì phong trào công nhân và tổ chức, hoạt động của Công đoàn luôn luôn gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với việc xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, cần chú trọng phối hợp với các cơ quan nghiên cứu của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân và hoạt động của công đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, giúp cho Đảng và Nhà nước có đủ căn cứ khoa học trong việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp. Quan tâm hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, giữ gìn sự trong sạch, bản chất cách mạng trong sáng của Đảng. Đẩy mạnh việc bồi dưỡng, phát triển Đảng trong công nhân, lao động; giới thiệu cho Đảng xem xét, kết nạp đảng viên từ những đoàn viên ưu tú của công đoàn và bổ sung cho Đảng những cán bộ xuất sắc, trưởng thành từ phong trào công nhân và hoạt động công đoàn, nhằm góp phần tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.

Các cấp ủy và tổ chức Đảng cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình, thường xuyên chăm lo lãnh đạo phong trào công nhân và hoạt động của Công đoàn. Các cấp ủy phải định kỳ nghe tình hình công tác của các tổ chức công đoàn và nguyện vọng của công nhân, lao động, để kịp thời có ý kiến chỉ đạo; đồng thời lãnh đạo chính quyền, các ngành chuyên môn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể khác phối hợp chặt chẽ với công đoàn trong các mặt công tác và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn hoạt động có hiệu quả.

PV

Từ khoá: thị trường kinh tế lợi ích vai trò chiến lược phát triển đồng bảo hiểm phát huy chính trị lao động người sử dụng lao động chủ tịch nước kinh doanh nguyễn tấn dũng nhà nước gia pháp luật hình thức phát triển kinh tế thị trường hội nhập quốc tế chất lượng người lao động nguyễn phú trọng khắc phục bão khoa học đồng xa việc làm nhận thức quản lý nhà nước bảo hiểm xã hội xây dựng công nhân doanh nghiệp nhà nước doanh nghiệp chính sách nền kinh tế quan tâm lợi ích hợp pháp cách mạng quan trọng việt nam đào tạo hiệu quả

Đoàn đại biểu Đảng CS Việt Nam thăm Triều Tiên

Nhận lời mời của Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do ông Trần Quốc Vượng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương dẫn đầu, có chuyến thăm và làm việc tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên từ ngày 24/7 đến 30/7.

Ngày 26/7, tại thủ đô Bình Nhưỡng, đoàn đã có cuộc hội đàm với đoàn đại biểu Đảng Lao động Triều Tiên do ông Kim Yong In, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, dẫn đầu.

Ông Trần Quốc Vượng trân trọng chuyển lời thăm hỏi thân thiết của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tới ông Kim Jong-un, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch thứ nhất Hội đồng quốc phòng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Triều Tiên.

Ông Trần Quốc Vượng bày tỏ vui mừng được đến thăm Triều Tiên trong những ngày nhân dân cả nước Triều Tiên đang có những hoạt động sôi nổi kỷ niệm 60 năm ngày ký kết thỏa thuận đình chiến, kết thúc cuộc chiến tranh liên Triều (1950-1953).

Ông Trần Quốc Vượng tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên, nhân dân Triều Tiên sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành được nhiều thắng lợi hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng một bán đảo Triều Tiên hòa bình, ổn định và phát triển, nhân dân Triều Tiên được hưởng cuộc sống hạnh phúc, đồng thời đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Về quan hệ hai nước, ông Trần Quốc Vượng nhấn mạnh, quan hệ Việt Nam-Triều Tiên là quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kim Nhật Thành đích thân xây đắp. Nhân dân hai nước đã từng giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Trong những năm qua, quan hệ hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã có những bước phát triển mới được đánh dấu bằng những chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước. Bên cạnh đó, các tổ chức quần chúng nhân dân hai nước không ngừng tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị.

Ông Trần Quốc Vượng khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là trước sau như một coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống với Triều Tiên, mong muốn tăng cường hợp tác cùng phát triển trong điều kiện mới.

Về phần mình, ông Kim Yong In hoan nghênh đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Triều Tiên và dự lễ kỷ niệm 60 năm ngày mà phía Triều Tiên gọi là “Ngày chiến thắng.”

Ông Kim Yong In bày tỏ vui mừng thấy mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước Triều Tiên- Việt Nam đang không ngừng được củng cố và phát triển, đặc biệt chuyến thăm Triều Tiên quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 10/2007 đã đưa quan hệ hai Đảng, hai nước tiến thêm một bước mới.

Ông Kim Yong In khẳng định Đảng và Nhà nước Triều Tiên luôn coi trọng phát triển quan hệ nhiều mặt với Việt Nam.

Ông Kim Yong In cũng đã nhờ ông Trần Quốc Vượng chuyển lời thăm hỏi của ông Kim Jong-un và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Triều Tiên đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trong bầu không khí hữu nghị và chân thành, hai bên đã thông báo cho nhau tình hình của mỗi Đảng, mỗi nước trong thời gian gần đây; trao đổi ý kiến về các biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trong thời gian tới và các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.

Trong thời gian ở thăm, đoàn cũng đã dự các hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày kết thúc cuộc chiến tranh liên Triều, thăm một số cơ sở kinh tế, văn hóa, lịch sử tại thủ đô Bình Nhưỡng./.

(TTXVN)

Từ khoá: xây dựng lao động nông đức mạnh hợp tác việt nam nhà nước nguyễn phú trọng phát triển triều tiên