Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèo

Công nhân nộp bảo hiểm xong, rơi luôn vào diện nghèoĐào tạo nghề tại Trường nghề CĐ. Ảnh: Kỳ Anh

Thường vụ Quốc hội thảo luận dự thảo Luật Việc làm:

Liệt kê hàng loạt các khoản mà một người lao động phải nộp trong lương, nào là thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, rồi giờ lại thêm bảo hiểm thất nghiệp, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước lo lắng: “Không khéo nhìn tổng lương có thể thu nhập mức trung bình, nhưng thu xong lại đẩy họ vào nhóm nghèo trong xã hội”. Ông đề nghị phải quy định “tỉ lệ phần trăm tối đa trong phần lương phải đóng góp”.

5 dự án nhưng chỉ 1 cái giếng

Vừa đi giám sát về dạy nghề cho lao động thiểu số, tiếp xúc với DN, người lao động, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước phản ánh tình trạng có quá nhiều trung tâm dạy nghề, đang phổ biến tình trạng “dạy trùng nghề, dạy nghề tràn lan”, trong khi lương trả cho bộ máy dạy nghề cũng từ ngân sách nhà nước. Tình trạng trùng lặp được Chủ tịch Hội đồng Dân tộc mô tả bằng hình ảnh “qua giám sát, 1 cái giếng thuộc 5 dự án, nhưng trên thực địa chỉ có 1 cái giếng”. Hay “một còn bò, thuộc rất nhiều dự án”.

Ông Phước đặt ra 2 vấn đề: Các DN cần được khyến khích, nhưng “nếu khuyến khích tràn lan thì sẽ mất hết. Trong khi bản chất của dạy nghề thì “dịch vụ rất nhiều trong khi hỗ trợ thì không rõ nét”.

Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính cũng băn khoăn về quy định hỗ trợ DN đào tạo nâng cao kỹ năng nghề vì lý do suy thoái kinh tế. Theo ông, hiện có hàng chục ngàn DN ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế. Nếu chúng ta hỗ trợ thế này thì Quỹ thất nghiệp chưa chắc đã đảm bảo được. Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN đề xuất: “Cần có cơ chế kiểm tra giám sát để tránh việc lạm dụng sự hỗ trợ này”.

Về vấn đề chi trả, hỗ trợ người lao động thất nghiệp, theo ông Chính, các huyện đều có cơ quan BHXH và nên để họ chi trả, vừa giảm thủ tục hành chính, vừa đỡ cho người lao động “phải đi rất xa đến cơ quan BHXH”.

Có thể mang quỹ quốc gia đi đầu tư?

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của QH Phùng Quốc Hiển phân tích, trong dự thảo luật có rất nhiều quy định sự hỗ trợ, với rất nhiều đối tượng từ thanh niên đến người nghèo. Chẳng hạn đối tượng “thanh niên”, hằng năm có tới 1,6 triệu người được “bổ sung” vào diện “thanh niên”. Ông đặt câu hỏi “nhưng như thế, ngân sách nhà nước phải đảm đương bao nhiêu hằng năm?”.

Liên quan đến việc sử dụng Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, thống nhất với quan điểm ngoài việc đóng góp thì quỹ cần phải sinh lời, thậm chí “việc gửi tiền vào các ngân hàng để sinh lời thì thôi cũng được”, tuy nhiên Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách lo lắng việc cho phép đầu tư vào các công trình “do Chính phủ quy định” hay cho vay, thì cần lưu ý. Cho vay dưới hình thức nào? Cho vay phát hành tín phiếu, trái phiếu có được không? Nếu mở rộng quá sẽ không đảm bảo an toàn của quỹ. Thực tế, nhiều khoản đầu tư không hiệu quả đâu – ông nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Phan Trung Lý thì đặt vấn đề với quy định hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp giao cho Bộ LĐTBXH quy định. “Vì sao lại không quy định trong luật? – ông Lý đặt câu hỏi, đồng thời khẳng định, vấn đề này cần minh bạch”. Ông cũng chỉ ra: Luật Việc làm có 21/63 điều, tức 1/3 số điều giao Chính phủ quy định là quá lớn, cần xem lại vì đây là những điều liên quan trực tiếp đến người lao động.

Dự kiến, dự thảo Luật Việc làm sẽ được đưa ra QH vào kỳ họp thứ sáu.

“Doanh nghiệp dịch vụ việc làm hoạt động theo Luật DN, nhưng thực tế có lúc chúng ta không kiểm soát được. Nhiều trường hợp đối tượng trước chúng ta gọi là “cò” đến Sở KHĐT xin cấp phép, xin quỹ và những doanh nghiệp như thế một ngày tìm được 100 lao động thôi đã kiếm được 2 triệu bạc. Vì vậy, cần phải tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực này” – Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính nói.

Từ khoá: bảo hiểm thất nghiệp thủ tục hành chính bão bảo hiểm xã hội người lao động thanh niên dự thảo quy định nhà nước việc làm luật việc làm quản lý nhà nước lao động suy thoái kinh tế bảo hiểm

Quyền lợi nào cho người lao động không hợp đồng?

(GD&TĐ) – Nâng cao hiệu quả bảo hiểm thất nghiệp là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo Luật việc làm lần đầu tiên được trình lên Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 vừa diễn ra với mục tiêu bảo đảm quyền lợi cho người lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Tuy nhiên, một khảo sát gần đây cho thấy ở thị trường lao động nước ta hiện nay, có tới gần 67% lực lượng lao động không có quan hệ lao động (có thể nôm na là không có hợp đồng lao động). Cùng với những hạn chế trong công tác quản lý, việc thiết kế chính sách bảo hiểm thất nghiệp với nhóm đối tượng này là quả là bài toán khó, nếu không muốn nói là khó khả thi.

Ảnh minh họa/internet
Ảnh minh họa/internet

Dự thảo Luật việc làm cùng với Bộ Luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật dạy nghề sắp được sửa đổi sẽ tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội về việc làm, thị trường lao động phát triển theo các quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà các nghị quyết của Đại hội Đảng đã đề ra, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế đối với riêng người lao động không có quan hệ lao động, mặc dù chiếm số lượng rất lớn trong nền kinh tế, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chưa có đủ nhân lực và công cụ để quản lý và kiểm soát được về mặt thu nhập và việc làm, mà mới chỉ kiểm soát được về mặt cư trú.

Bởi vậy mới nói việc thiết kế chính sách bảo hiểm thất nghiệp với nhóm đối tượng này là điều khó khả thi. Một khi đã không có sự quản lý, việc dự thảo Luật việc làm mở rộng phạm vi áp dụng đối với bảo hiểm thất nghiệp, đối với nhóm lao động không có quan hệ lao động là quá vội vàng. Đã không quản lý được, vậy lấy gì để chứng minh việc họ mất việc và cần hỗ trợ? Lấy ai bảo vệ quyền lợi cho họ khi cần phải sử dụng đến bảo hiểm thất nghiệp?

Bảo hiểm thất nghiệp là bảo hiểm ngắn hạn thì mục tiêu quan trọng nhất của chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm… để họ sớm tìm được việc làm. Đồng thời có hỗ trợ bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong thời gian thất nghiệp. Trên thực tiễn, qua 4 năm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế trong việc thực hiện đúng chức năng, vai trò và chính sách bảo đảm về việc làm toàn diện cho người lao động. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp mới chỉ dừng ở việc hỗ trợ cho người lao động sau khi bị mất việc làm (hầu hết dành cho các lao động có hợp đồng), giải quyết hậu quả thất nghiệp mà chưa có một chính sách duy trì việc làm ngăn ngừa hay hạn chế thất nghiệp. Ngay đối với bảo hiểm xã hội, vốn bắt buộc đối với nhiều đối tượng lao động, cũng do nhiều bất cập mà tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội năm 2012 thì mới đạt khoảng 20%, rất xa với mục tiêu 50%.

Tất nhiên, với yêu cầu bảo đảm mục tiêu về an sinh xã hội, vẫn phải cần có những biện pháp để thu hút lao động thuộc nhóm lao động không có quan hệ lao động tham gia loại hình bảo hiểm thất nghiệp, nhằm tăng tính bền vững cho việc làm của họ trong điều kiện thị trường lao động đang phát triển. Nhưng đó là về lâu dài. Còn trong bối cảnh hiện nay, khi mà công tác quản lý chưa hoàn thiện, việc vội vàng áp dụng quy định “cứng” vào luật lại có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của những đối tượng lao động này. Nói cách khác, đối với người lao động không có quan hệ lao động, tham gia bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện, không nên quy định trong luật mà giao cho các cơ quan chức năng nghiên cứu thí điểm thực hiện, khi có đủ điều kiện mới đưa vào quy định trong luật này. Mục đích tránh những bất cập phát sinh về sau như chúng ta đã không ít lần gặp phải khi vội vàng đưa các quy định vào luật mà thực tế không đáp ứng được, dẫn đến việc phải sớm sửa đổi, bổ sung sau đó.

Nhất Nguyên

Từ khoá: tham gia bảo hiểm bảo vệ quyền lợi quy định chính sách việc làm người lao động hạn chế kinh tế thị trường cơ quan quản lý nhà nước luật bảo hiểm bão loại hình bảo hiểm bảo hiểm xã hội chính sách bảo hiểm thị trường bộ luật lao động gia kinh tế luật việc làm nền kinh tế bảo hiểm thất nghiệp hợp đồng luật bảo hiểm xã hội bảo hiểm quản lý nhà nước lao động phát triển quyền lợi

Áp dụng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngắn hạn là phù hợp

(HNMO) – Sáng 19/6, thảo luận tại hội trường về dự án Luật việc làm, các đại biểu đã tập trung cho ý kiến về việc cấp chứng chỉ ngành nghề và chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Đánh giá chung về dự án luật, các đại biểu cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành luật nhằm bảo đảm sự thống nhất trong các quy định pháp luật, thể chế hóa quan điểm của Đảng là “tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn”. Mặt khác, Luật việc làm sẽ góp phần phát triển đồng bộ các yếu tố của thị trường lao động, hiện thực hóa mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020.

Về phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, các đại biểu nhất trí, dự luật áp dụng với đối tượng là công dân Việt Nam trong nước từ đủ 15 tuổi trở lên, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc; người lao động, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có sử dụng lao động.

Về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề, các đại biểu tán thành việc đưa nội dung này vào Luật việc làm, thay vì luật dạy nghề như hiện nay, vì đây là hoạt động hỗ trợ cho người lao động thuộc phạm vi thị trường lao động; khác với việc đánh giá, cấp chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng nghề cho người học nghề trong các cơ sở đào tạo. |

“Lâu nay, chúng ta mới chú trọng tới công tác tạo việc làm, chưa chú trọng tới chất lượng. Việc cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là cần thiết nhằm cải thiện chất lượng lao động”, đại biểu Nguyễn Hữu Đức – Đồng Tháp nhận xét.

Nhiều ý kiến nhất trí, quy định này chỉ áp dụng đối với ngành nghề kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ và được thực hiện theo yêu cầu của người lao động nhằm xác định năng lực làm việc của bản thân để tham gia dự tuyển vào những vị trí công việc mà người sử dụng lao động yêu cầu phải có chứng chỉ nghề và một số ngành nghề, vị trí công việc có ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe. Tuy nhiên, dự thảo Luật cần quy định cụ thể về quy trình, thủ tục đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề.

“Dự luật cần loại trừ các đối tượng đã qua đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề thì không cần có chứng chỉ hành nghề vì các đối tượng này là các đối tượng điều chỉnh của các luật khác và đã được xác định tay nghề, chuyên môn bởi những đơn vị đủ điều kiện cơ sở vật chất và năng lực. Nếu họ lại phải qua đánh giá thì vô hình chung, sẽ hình thành giấy phép con, không cần thiết và làm phát sinh bộ máy”, đại biểu Chu Sơn Hà – Hà Nội nói.

Đại biểu Vũ Xuân Trường – Nam Định cũng đề nghị phải cụ thể hóa hơn quy định về cấp chứng chỉ ngành nghề. Theo đại biểu Trường, các đối tượng đã qua đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học nay lại phải qua kỳ sát hạch để cấp chứng chỉ nghề là không phù hợp, không góp phần làm giảm bớt các thủ tục hành chính. Vì vậy, quy định này chỉ nên áp dụng với các đối tượng chưa qua đào tạo.

Tán thành quan điểm này, đại biểu Phạm Thị Trung – Kon Tum đề xuất thêm: “Để đảm bảo tạo điều kiện cho người lao động về việc làm, dự luật cần quy định rõ đối tượng và điều kiện tham gia đánh giá, làm rõ trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động đã tham gia đánh giá nghề quốc gia trong việc tạo điều kiện cho người lao động tham gia đào tạo nghề có việc làm”.

Đáng chú ý, về bảo hiểm thất nghiệp, các đại biểu tán thành với quy định đây là chính sách bảo hiểm ngắn hạn, được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội, thực hiện từ ngày 01/01/2009 nhằm góp phần bảo đảm an sinh xã hội, bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, đồng thời hỗ trợ người lao động học nghề, tìm việc làm mới phù hợp, sớm đưa họ trở lại làm việc.

Với khoảng 67% lực lượng lao động không có quan hệ lao động, các đại biểu Nguyễn Thúy Hoàng – Thái Bình, Trần Thị Hiền – Hà Nam, Lê Thị Nguyệt – Vĩnh Phúc, Mã Điền Cư – Quảng Ngãi, Đặng Thuần Phong – Bến Tre… cũng nhất trí, cần có những biện pháp để thu hút số lao động thuộc nhóm này tham gia loại hình bảo hiểm thất nghiệp nhằm tăng tính bền vững cho việc làm của họ trong điều kiện thị trường lao động đang phát triển.

Tuy nhiên, việc mở rộng và quản lý các đối tượng này tham gia bảo hiểm thất nghiệp là khá phức tạp và quỹ bảo hiểm thất nghiệp dễ bị lạm dụng do những khó khăn trong việc xác định tình trạng thất nghiệp, công tác thu – chi, khả năng quản lý đối tượng… Do đó, một số đại biểu đề xuất, dự luật chỉ nên dừng lại ở nhóm lao động có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. Đối với nhóm lao động còn lại do chưa có kinh nghiệm, dự thảo Luật nên quy định nguyên tắc, giao cho Chính phủ trong từng giai đoạn quy định điều kiện để tổ chức thực hiện phù hợp với khả năng quản lý và trình độ phát triển kinh tế xã hội.

Từ khoá: thủ tục hành chính luật việc làm đào tạo kỹ năng bão bảo hiểm thất nghiệp loại hình bảo hiểm lao động nâng cao chất lượng chính sách bảo hiểm gia nền kinh tế việc làm tham gia bảo hiểm chiến lược phát triển quỹ bảo hiểm dự luật luật bảo hiểm xã hội chấm dứt hợp đồng chất lượng chứng chỉ bảo hiểm xã hội người sử dụng lao động người lao động quy định phát triển bảo hiểm thị trường luật bảo hiểm

Bổ nhiệm ông Đinh Tiến Dũng làm Bộ trưởng Bộ Tài chính

(CATP) Tiếp tục chương trình xem xét công tác nhân sự, sáng 24-5-2013, Quốc hội đã bỏ phiếu phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm ông Đinh Tiến Dũng – Tổng kiểm toán Nhà nước – giữ chức vụ Bộ trưởng Tài chính. Sau đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội giới thiệu ông Nguyễn Hữu Vạn – Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai thay thế ông Đinh Tiến Dũng làm Tổng kiểm toán Nhà nước. Ông Nguyễn Hữu Vạn sinh năm 1956, là tiến sĩ Kinh tế. Việc bỏ phiếu bầu Tổng kiểm toán Nhà nước được tiến hành vào cuối buổi chiều.

Trước đó, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2013 của Quốc hội. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII sáu dự luật, hai pháp lệnh và một nghị quyết, gồm: Luật sửa đổi, bổ sung điều 170 của Luật doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi); Luật cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tố tụng hành chính; Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi); Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Pháp lệnh cảnh sát môi trường và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH10 về việc ban hành biểu mức thuế suất thuế tài nguyên.

Về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, Thường vụ Quốc hội đề nghị lùi thời hạn trình các dự án Luật hải quan (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm xã hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dạy nghề, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi), Luật hộ tịch. Đồng thời, Thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung vào chương trình làm luật trong năm 2013 dự án Luật công an nhân dân (sửa đổi), dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; dự án Luật việc làm và dự án Luật đầu tư công, mua sắm công…

Về đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, ông Phan Trung Lý cho biết, tính đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhận được đề nghị 55 dự án, trong đó 53 dự án luật, 2 dự án pháp lệnh của Chính phủ. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị 2 dự án luật. Tòa án nhân dân tối cao đề nghị 3 dự án luật, 1 dự án pháp lệnh. Ủy ban Kinh tế đề nghị 7 dự án luật. Ngoài ra, các đoàn đại biểu Quốc hội: thành phố Đà Nẵng đề nghị 3 dự án luật; tỉnh Sóc Trăng đề nghị 36 dự án luật, 2 dự án pháp lệnh; tỉnh Quảng Nam đề nghị 1 dự án luật. Các đại biểu Quốc hội đề nghị 14 dự án luật.

Để bảo đảm tính khả thi của chương trình, tránh bị điều chỉnh quá nhiều, theo ông Phan Trung Lý, việc xem xét, quyết định đưa các dự án vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 cần phải cân nhắc một cách thận trọng. Ngoài ra, việc đưa các dự án vào chương trình năm 2014 phải tính đến quỹ thời gian, khả năng thực tế của cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra để tránh dồn quá nhiều dự án vào một cơ quan nhằm bảo đảm chất lượng và tiến độ chuẩn bị dự án.

Từ khoá: nhà nước luật bảo hiểm luật việc làm bảo hiểm xã hội bão luật doanh nghiệp xây dựng việt nam luật bảo hiểm xã hội

Đào tạo xong vẫn không làm được việc

Ủy ban Thường vụ Quốc hội góp ý dự án Luật Việc làm:

(Dân Việt) – Ngày 11.4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã cho ý kiến Dự án Luật Việc làm. Nhiều ý kiến đồng tình với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, vì hiện cả nước có khoảng 2/3 lực lượng lao động không có quan hệ lao động.

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Thay mặt cơ quan thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai đã đọc báo cáo thẩm tra. Theo đó, hiện nay mới có khoảng 33,8% lao động làm công ăn lương, vẫn còn khoảng 67,2% lao động không có quan hệ lao động trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc ban hành Luật Việc làm là cần thiết nhằm góp phần phát triển đồng bộ các yếu tố của thị trường lao động.

Lao động tự do tại xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hoà, Hà Nội.

Bên cạnh đó, Thường trực Ủy ban cho rằng dự luật cần cụ thể hóa hơn nữa một số quan điểm, trong đó đáng chú ý là xây dựng những chính sách ưu tiên hỗ trợ tạo việc làm đối với nhóm lao động trẻ, nhóm lao động yếu thế, lao động nữ, lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, lao động tự do… nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở nhóm đối tượng và các khu vực này vì đây là khu vực chịu nhiều rủi ro về điều kiện môi trường làm việc, thu nhập thấp và ít ổn định hơn so với khu vực có quan hệ lao động.

Ngoài ra, chương trình việc làm công (Điều 14) là chính sách mới, do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm tại chỗ và tạm thời ở khu vực nông thôn thông qua các chương trình, dự án ở các địa phương.

Về chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bà Trương Thị Mai nhận định, việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN là cần thiết nhằm đạt mục tiêu về an sinh xã hội, vì hiện nay có khoảng 70% lực lượng lao động không có quan hệ lao động. Do vậy rất cần có những biện pháp để thu hút số lao động này tham gia loại hình BHTN nhằm tăng tính bền vững cho việc làm của họ trong điều kiện thị trường lao động đang phát triển.

Cần chính sách phù hợp cho từng đối tượng

Góp ý cho Dự thảo Luật Việc làm, Chủ nhiệm UB Tài chính – Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng: Cần xem xét đến tính thực tiễn của luật do liên quan đến 3 vấn đề lớn, rộng, không chỉ mang tính chất xã hội mà còn mang tính chính trị, là người lao động – việc làm – thị trường lao động. “Hơn nữa, phải tính đến khả thi. Quy định rất nhiều, nhưng có đạt được điều chúng ta mong muốn không chứ tôi thấy tính khả thi không cao” -ông Hiển đánh giá.

Phó Chủ tịch Huỳnh Ngọc Sơn thì cho rằng luật mới chỉ đề cập đến lao động chân tay, trong khi lao động trí óc gần như không đề cập đến. “Đâu phải chỉ công nhân mới là lao động” – Phó Chủ tịch nhận định.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì phân tích: Con số 67,2% lao động chưa có quan hệ lao động tôi hiểu là lao động nông thôn, cái này phải giải quyết vì đây là đối tượng đáng lưu ý. Thực tế là nông thôn đang thiếu ruộng, một người có thể làm hết ruộng mà bố mẹ để lại, vậy còn 2-3 người nữa làm gì? Để giảm lao động nông thôn, thì phải tạo việc làm cho họ trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, hoặc đi nước ngoài. Như vậy phải hỗ trợ đào tạo họ. Chủ tịch QH cũng lưu ý thêm: Có một loại lao động nữa trong số 67% không nằm ở nông thôn mà ở thành thị. Đây là số nông dân bị mất đất do đô thị hóa, thiếu việc làm dẫn tới đua xe, tiêm chích… Do đó chúng ta cần có chính sách thích hợp cho từng đối tượng.

Về vấn đề đào tạo lao động, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nêu quan điểm: “Không thể có việc làm bền vững nếu không qua đào tạo. Nhưng thực tế đào tạo nghề thì sao? Ngay Nghệ An đó, trung tâm đào tạo việc làm chỉ có mấy cục sắt nằm ngoài sân. Các cháu đi xuất khẩu lao động qua đào tạo vẫn không làm được. Có cô lao động nói mất 3 năm vừa tốn tiền bạc, vừa mất thời gian mà vẫn không làm được việc, phải học lại. Không một thứ đào tạo nghề nào, một ngành nghề nào mà về cơ quan không phải đào tạo lại. Tôi xin nói thẳng với các đồng chí thế. Đây là một vấn đề xã hội đang đặt ra rất bức thiết” -Chủ tịch chốt lại.

Hải Phong

Từ khoá: đào tạo chính sách bảo hiểm gia thị trường thu nhập thấp chính sách bảo hiểm thất nghiệp nền kinh tế nông thôn lao động việc làm bhtn giải quyết luật việc làm người lao động tham gia bảo hiểm