Loay hoay lựa chọn thức ăn chuẩn cho bò sữa

(HNM) – Ba Vì là huyện có tiềm năng và thế mạnh trong phát triển chăn nuôi bò sữa bởi đất đai rộng, nguồn thức ăn xanh sẵn, lại có nhà máy chế biến sữa lớn trên địa bàn.

Trong khi các hộ dân chăn nuôi lợn, gà đang gặp khó khăn, chăn nuôi bò sữa vẫn cho thu nhập ổn định. Để nâng cao chất lượng sữa, ngoài yếu tố con giống, thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cũng đóng vai trò quan trọng nhưng thị trường TĂCN vẫn đang bị thả nổi khiến các hộ nuôi bò sữa loay hoay với việc lựa chọn thức ăn tinh.

Chăm sóc bò sữa tại Ba Vì. Ảnh: Thái Hiền
Chăm sóc bò sữa tại Ba Vì. Ảnh: Thái Hiền

Loạn nhà cung cấp TĂCN

Tản Lĩnh là xã nuôi nhiều bò sữa của huyện Ba Vì, nhiều hộ dân làm giàu bằng nghề này. Ông Phùng Quang Lương, cán bộ khuyến nông xã cho biết, tổng đàn bò của Tản Lĩnh là 2.175 con. Thời gian gần đây, người dân trong xã băn khoăn trước khuyến cáo của Công ty cổ phần Sữa Quốc tế (IDP) “nên lấy cám ở những công ty có uy tín để bảo đảm chất lượng” nhưng giá cám của các công ty này thường cao. Theo ông Lương, hiện trên địa bàn xã có tới 9 công ty cung cấp thức ăn cho bò như Nam Việt, Phú Gia, Lái Thiêu, Voi Vàng, Thuận Phát, CP, Thái Dương, ABS… khiến người dân không biết tin và lựa chọn sản phẩm nào. Người dân loay hoay với việc lựa chọn nhà cung cấp thức ăn, còn chính quyền địa phương không thể kiểm soát chất lượng và thả nổi việc bán hàng. Không những thế, các hãng cung cấp thức ăn còn cạnh tranh không lành mạnh, đưa một số loại thức ăn hàm lượng dinh dưỡng thấp, chào hàng giá rẻ khiến người dân ham rẻ mua cám không bảo đảm, làm giảm chất lượng sữa nên bị công ty từ chối thu mua sản phẩm.

Trưởng thôn Hát Giang, xã Tản Lĩnh Phạm Đình Thông (hộ đang nuôi 3 con bò sữa, trong đó có 2 con đang cho khai thác) cho biết: Thời gian gần đây trên địa bàn thôn “loạn” về các thương hiệu cũng như mẫu mã sản phẩm thức ăn cho bò khiến người nuôi chẳng biết thế nào mà lựa chọn. Mặc dù các ngành chức năng cũng khuyến cáo người dân nên sử dụng các loại cám đã được Công ty IDP xét nghiệm về chỉ tiêu chất lượng, nhưng tâm lý người nuôi ham rẻ nên nhiều hộ vẫn lựa chọn cám rẻ. Hộ ông Nguyễn Ngọc Bảo nuôi 4 con bò sữa cho biết, hiện gia đình đang mua cám của Công ty Phú Gia với giá 333 nghìn đồng/bao/, trong khi đó nếu sử dụng cám Nam Việt mã số 888 do Công ty IDP khuyến cáo thì giá 360 nghìn đồng/bao. Gia đình muốn để các hộ dân sử dụng cám Nam Việt trước, nếu chất lượng sữa và bò tăng trọng nhanh hơn so với ăn cám Phú Gia thì sẽ lựa chọn.

Quản lý chất lượng đầu vào

Trưởng phòng Kinh tế huyện Ba Vì Nguyễn Đình Dần cho biết, năm 2008 số lượng đàn bò sữa của huyện có khoảng 1.000 con, chăn nuôi nhỏ lẻ, người dân chưa có kiến thức nhiều về chăn nuôi, đặc biệt là vụ sữa nhiễm Melamine đã làm nhiều gia đình trắng tay. Sau 5 năm bà con có thêm kinh nghiệm trong nuôi bò sữa, đầu tư trang trại, mở rộng quy mô, nên số lượng đàn bò của huyện hiện nay đã tăng lên 6.400-6.500 con, gấp 5 lần so với năm 2008. Tuy nhiên, hơn một năm nay trên địa bàn huyện có việc cạnh tranh không lành mạnh giữa một số doanh nghiệp (DN) cung cấp thức ăn cho bò. Tình trạng DN tranh bán, chào hàng với giá rẻ khiến người dân không biết lựa chọn nhà cung cấp thức ăn chuẩn. Trước tình hình đó, các ngành chức năng của huyện đã cùng Công ty IDP thành lập đoàn kiểm tra, lấy mẫu thức ăn của một số DN đưa đi xét nghiệm cho thấy, chất lượng chỉ bằng 30% so với đăng ký nhãn mác trên bao bì. Vì vậy, huyện đã đề nghị Công ty IDP khuyến cáo người dân lựa chọn thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao đưa vào chăn nuôi để bảo đảm chất lượng sữa tốt. Huyện Ba Vì sẽ tăng cường kiểm soát và quản lý các yếu tố đầu vào giúp người dân phát triển chăn nuôi ổn định và cung cấp sữa chất lượng đạt chuẩn.

Từ khoá: gia gia đình bão sản phẩm người dân cạnh tranh không lành mạnh nâng cao chất lượng không lành mạnh cung cấp công ty công ty cổ phần chất lượng lựa chọn

VNPayTV kiến nghị về bản quyền truyền hình Ngoại hạng Anh

TPO – VNPayT) vừa có văn bản báo cáo Văn phòng Chính phủ và Bộ TT-TT, đề nghị chỉ đạo VTV thực hiện đúng cam kết về vấn đề bản quyền truyền hình giải Ngoại hạng Anh.

Sau khi VTV – đơn vị góp vốn 51% trong Công ty TNHH Truyền hình số vệ tinh Việt Nam (VSTV) – đồng ý để VSTV mua độc quyền bản quyền phát sóng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh giai đoạn 2013 – 2016 các trận đấu ngày Chủ Nhật (Super Sunday) cộng thêm các trận đấu sớm ngày thứ Bảy và giữa tuần, Hiệp hội truyền hình trả tiền Việt Nam (VNPayTV) đã nêu quan điểm về vấn đề này.

Theo văn bản do ông Lê Đình Cường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VNPayTV ký, ngay từ đầu, VTV đã có chủ trương mua độc quyền các trận đấu hay nhất của Ngoại hạng Anh giai đoạn 2013 – 2106 các trận đấu ngày Chủ nhật bằng cách giao cho VSTV/Canal+ đại diện cho VTV tham gia đấu giá bản quyền. Chủ trương này được chính Phó Tổng Giám đốc VTV Nguyễn Thành Lương thông báo trong cuộc họp đầu tiên của Ban Điều hành đàm phán ngày 27/2/2013.

Khi các đơn vị hoạt động truyền hình gửi công văn đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến chỉ đạo để tránh tình trạng các đài truyền hình, đơn vị kinh doanh truyền hình trả tiền cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại chung cho đất nước, VTV đã gửi công văn đến Bộ Thông tin và Truyền thông để nhận trách nhiệm làm đầu mối đàm phán mua bản quyền phát sóng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh với mục tiêu không có bất kỳ gói độc quyền nào và giá của toàn bộ giải EPL cho 3 mùa giải mới (2013-2016) không vượt quá 20% giá của 3 mùa giải 2010-2013.

Sau khi Bộ Thông tin và Truyền thông có văn đồng ý với đề xuất của VTV, VTV thành lập Ban Điều hành đàm phán mua bản quyền phát sóng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Cuối tháng 2/2013, Ban Điều hành đàm phán đã họp thống nhất: Không chấp nhận tình trạng độc quyền phát sóng giải Ngoại hạng Anh tại lãnh thổ Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào và bất kỳ việc chia sẻ các gói; Các đơn vị hoạt động truyền hình tại Việt Nam chỉ xem xét đàm phán mua bản quyền phát sóng khi giá bản quyền không cao hơn giá 3 mùa giải trước đó quá 20%.

Từ sau đó, các thành viên Ban Điều hành đàm phán không được VTV thông báo thông tin nào cụ thể về bản quyền phát sóng bóng đá Anh. Cho đến khi Canal+ thông báo đã mua độc quyền tất cả các trận đấu của ngày Chủ nhật và các trận đấu hay nhất của ngày thứ Bảy và giữa tuần, VTV đã tổ chức một cuộc tiếp xúc Ban Điều hành đàm phán với IMG, thực chất cuộc tiếp xúc là việc IMG chào hàng “các trận đấu còn lại của giải Ngoại hạng Anh” với các đơn vị hoạt động truyền hình khác, với giá trị rất thấp. Tại cuộc họp này, các đơn vị hoạt động truyền hình đã phản đối cách làm việc này và bày tỏ quan điểm tẩy chay phần còn lại của giải đấu EPL – dù giá chào bán ở mức nào.

Ngày 24/6/2013, Hội đồng Thành viên mà VTV nắm giữ 51% vốn điều lệ và giữ quyền quản lý nội dung phát sóng của VSTV đã họp và đồng ý để VSTV mua độc quyền bản quyền phát sóng tất cả các trận đấu của ngày Chủ nhật và các trận đấu hay nhất của ngày Thứ Bảy và giữa tuần giai đoạn 2013 – 2016 với giá gần 40 triệu USD.

Trước diễn biến này, nhiều thành viên VNPayTV có ý kiến thắc mắc về sự nhất quán của VTV trong vấn đề bản quyền bóng đá Anh. Trên cơ sở thực tế tham gia quá trình đàm phán, những ý kiến chất vấn của các đơn vị thành viên với VNPayTV và dư luận xã hội, PayTV đã có văn bản đề nghị Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo VTV thực hiện đúng cam kết của mình đã nêu trong công văn 1939/THVN ngày 20/11/2012 gửi Bộ Thông tin và Truyền thông. Cụ thể là không có bất kỳ gói độc quyền nào và giá của toàn bộ giải EPL cho 3 mùa giải mới (2013 – 2016) không vượt quá 20% giá của 3 mùa giải 2010 – 2013.

V.P

Từ khoá: thông tin độc quyền bão cạnh tranh không lành mạnh việt nam gia tổng giám đốc không lành mạnh bóng đá tổng thư ký vốn điều lệ mua bán

Microsoft và Nokia tố Google cạnh tranh không lành mạnh

TTO – Theo Financial Times, Liên minh châu Âu (EU) tiến hành điều tra Google về việc sử dụng các phương thức cạnh tranh không lành mạnh để trợ giúp “con cưng” Android, dựa theo cáo buộc từ Microsoft và Nokia.

  • EU sẽ điều tra Huawei và ZTE
ImageView.aspx?ThumbnailID=639938
Google bị cáo buộc đã gây sức ép đối với các nhà sản xuất thiết bị di động, các nhà mạng, hậu thuẫn cho hệ điều hành Android – Ảnh minh họa: Internet

Theo Thời báo Tài chính (FT), các cáo buộc cho rằng Google cung cấp bản quyền Android đến các nhà cung cấp với giá thấp, kèm theo yêu cầu “vị trí tốt” cho các dịch vụ và ứng dụng của gã khổng lồ tìm kiếm trực tuyến.

Trong số các cáo buộc bao gồm việc Google đưa ra các yêu cầu “hủy bỏ và / hoặc trì hoãn ra mắt các thiết bị điện thoại thông minh (smartphone)” sử dụng các hệ điều hành khác (không phải Android) hay các dịch vụ cạnh tranh được hỗ trợ.

Theo công bố, cuộc điều tra đang ở giai đoạn “không chính thức”, có thể hoặc có thể không dẫn tới một cuộc điều tra chính thức.

Google hiện vẫn trong tầm ngắm của các cơ quan quản lý châu Âu vì liên quan tới các vấn đề chống độc quyền trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến.

Theo thông cáo từ Google, “Android là một nền tảng mở thúc đẩy cạnh tranh. Các nhà sản xuất thiết bị cầm tay, các nhà mạng và người tiêu dùng có thể quyết định cách thức sử dụng Android, bao gồm việc những ứng dụng nào họ muốn sử dụng”.

Microsoft là một trong số các công ty chỉ cấp giấy phép thương mại hóa một hệ điều hành cho smartphone, thu phí giấy phép bản quyền, không hỗ trợ một mô hình mở tương tự như Android, và các đại diện non trẻ tiềm năng khác như Tizen và FireFox OS. Tuy vậy, Microsoft cũng đang kiếm bộn từ phí bản quyền Android. Trong năm 2011 – 2012, lần lượt các nhà sản xuất thiết bị di động lớn trên thế giới đều phải “nộp phí” hoặc “thương lượng” với Microsoft vì có sản xuất các thiết bị dùng Android, gồm: Acer, ViewSonic, Samsung, EINS SE, Hoeft & Wessel, Sharp, HTC, Compal Electronics, Wistron và Quanta Computer.

* Nhịp Sống Số: Khi bằng phát minh là vũ khí đe dọa sáng tạo | Microsoft tiếp tục thu lợi từ Android

Nokia là một trong những nhà sản xuất smartphone lớn trên thế giới nhưng không có một thiết bị dùng hệ điều hành Android nào. Apple và BlackBerry là những đối thủ cạnh tranh của Google Android dùng ngay chính nền tảng tự phát triển (iOS, và BlackBerry OS).

Financial Times cho biết đã có những cáo buộc trước đó về Google đã tạo áp lực lên các hãng sản xuất thiết bị.

PHONG VÂN

Từ khoá: đối thủ cạnh tranh cạnh tranh không lành mạnh hệ điều hành google không lành mạnh cạnh tranh thiết bị người tiêu dùng

Ngân hàng có hưởng lãi khủng

ANTĐ – Vấn đề được dư luận quan tâm trong thời gian vừa qua là việc hàng loạt ngân hàng giảm lãi suất huy động xuống mức 6%/năm. Trong khi đó mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức 12-13%. Nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng đang hưởng chênh lệch quá lớn, như vậy là bất hợp lý.

Không phải đến bây giờ, vấn đề chênh lệch lãi suất mới được đem ra bàn luận. Lâu nay, lãi suất huy động và cho vay luôn có một khoảng cách rất lớn. Hiện tại, các ngân hàng thương mại huy động kỳ hạn ngắn 6-7,5%/năm, cho vay là 12-13%/năm, còn kỳ hạn dài hạn huy động 9,5-10% và cho vay 14-16%/năm. Như vậy mức chênh lệch là 5-6% cho kỳ hạn ngắn và 4,5-5% cho kỳ hạn dài. Tại cuộc hội thảo về tín dụng, lãi suất mới được tổ chức vừa qua tại Ngân hàng Nhà nước, chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng chênh lệch lãi suất các ngân hàng thu về lên tới 6% là bất hợp lý. Theo ông Hiếu, nếu các ngân hàng làm tốt thì biên độ lợi nhuận ròng nên ở mức 2%, thậm chí có ngân hàng 1% và có ngân hàng 0%. Mức chênh 6% do ngân hàng hoạt động không lành mạnh với chủ yếu là nợ xấu.

Theo cơ quan thanh tra giám sát (Ngân hàng Nhà nước), năm 2012, các ngân hàng hưởng chênh lệch khoảng 20.000 tỷ đồng từ số lãi thu về do cho vay ra là 420.000 tỷ đồng và tiền lãi trả cho huy động 408.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng thực sự ngân hàng không lãi lớn như thế. TS Nguyễn Đức Trung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học ngân hàng cho rằng: Tại thời điểm hiện tại, mức chênh lệch trung bình chỉ khoảng 2%. Không có chuyện ngân hàng được hưởng mức chênh lệch “khủng” 5-7%, như dư luận đồn đoán. Nếu chênh lệch cao như vậy, cả xã hội đã đổ xô đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng. Chúng tôi đã tổng hợp số liệu chênh lệch lãi suất huy động – cho vay của một số ngân hàng trong nhiều năm qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính trung bình lãi suất huy động và cho vay, chênh lệch lãi suất thời điểm cao nhất cũng chỉ 3,5%. Riêng trong năm 2012, mức chênh lệch bình quân là gần 2,2%.

Về phía các ngân hàng cũng cho rằng không hề có chuyện lãi lớn như thế. Ông Nguyễn Tiến Đông, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chia sẻ chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào tại ngân hàng này trên lý thuyết là hơn 4%, chưa bao gồm trích lập dự phòng rủi ro và một số biện pháp khác. Hiện tại lãi suất cho vay ở ngân hàng này bình quân là 12%/năm, có khoản chỉ 8-10% nhưng cũng có khoản 11-13%, và chỉ thu được khoảng 80% trong số này. Còn lại, doanh nghiệp bị đọng, không trả được. Ngược lại, lãi suất huy động phải đến đầu tháng 9 năm nay mới trả hết các khoản đã huy động trước đó 12%/năm, do đó, mức 7,5% trần hiện nay không thực tế trong bản cân đối kế toán của ngân hàng mà chỉ là số liệu “nghe tưởng chừng như vậy”.

TS Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Kinh tế, Đại học Ngân hàng TP.HCM: Lãi suất như thế là quá hợp lý

– Những ngày gần đây, lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng đã giảm mạnh xuống 6%/năm. Tuy nhiên mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức 12-13% hoặc cao hơn. Nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng đang lãi lớn. Ông có bình luận gì về vấn đề này?

– Chúng ta phải nhìn toàn diện. Khó khăn là khó khăn chung. Lãi suất 6% ngân hàng đã nhận được đâu. Lãi suất 6% chỉ áp dụng cho kỳ hạn một tháng. Vì vậy người gửi tiền đã chuyển hết từ kỳ hạn một tháng sang 3 tháng và dài hạn rồi. Kỳ thực lãi suất huy động không giảm mà vẫn là 7,5%. Nếu giảm nữa từ 7,5% xuống 7% thì mới giảm tí tẹo nhưng thực ra vốn trước đó người ta có được nhận 7% đâu. Lãi suất ngân hàng huy động trước đây là 14% hiện cũng chưa giải quyết xong. Vì vậy không thể nói ngân hàng huy động lãi suất 6% nhưng cho vay 12-13%.

– Nhiều doanh nghiệp vẫn kêu rằng họ đang phải vay ngân hàng lãi suất cao, thậm chí trên 15%?

– Nền kinh tế khó khăn chung, các bên đều phải nỗ lực, nhất là Chính phủ. Đầu ra đã giảm nhiều rồi. Số lãi suất cho vay trên 15% hiện chỉ còn 14% tổng dư nợ của toàn ngành Ngân hàng, như vậy là thiểu số chứ không phải đa số. Hiện tại phổ biến là 10-13%, muốn giảm nữa thì cần có độ trễ. Lãi suất cao hay thấp tùy vào thời hạn vay dài hay ngắn, tùy thuộc vào khả năng thanh toán, kinh doanh, độ rủi ro của doanh nghiệp. Hiện tại ngân hàng cũng chịu áp lực rất lớn về cổ tức và lợi nhuận. Nói ngân hàng “ăn” 5-6% chênh lệch lãi suất tôi không đồng ý.

– Ông có thể phân tích rõ hơn?

– Cứ làm phép tính đơn giản, đầu vào 6%, cho vay 12% ngắn hạn. Nhưng nói thế thôi chứ không phải là chênh lệch 6% vì nhận vào cũng không phải cho vay được hết, ngoài ra còn chi phí nhân công, khấu hao… Hiện nay nhiều ngân hàng tìm cách giảm nhân viên, giảm đủ mọi thứ. Ngân hàng cũng là doanh nghiệp. Nói cứu doanh nghiệp sao không cứu ngân hàng. Tôi nghĩ giờ lãi suất tương đối ổn. Vấn đề hiện nay không nằm ở lãi suất mà nằm ở tổng cầu. Có cho vay lãi suất 0% cũng vẫn chết vì có bán được hàng đâu. Xét công bằng so với kỳ vọng, lãi suất 10% bình quân đầu ra là doanh nghiệp êm. Hiện tại nhiều doanh nghiệp cũng chỉ phải vay lãi suất 9-10%. Mỗi bên phải cố một tí, ngân hàng đã cố rồi thì doanh nghiệp cũng phải cố.

– Như vậy là theo ông, lãi suất huy động và cho vay hiện nay là hợp lý?

– Tôi nghĩ là quá hợp lý. Nhà nước đã quá nỗ lực rồi. Tất cả mọi người đều phải nỗ lực. Doanh nghiêp nào không trụ được thì phải chịu, chỉ cứu những anh cần cứu.

– Cảm ơn ông!

Khánh Hòa

Từ khoá: tổng giám đốc ngân hàng nông nghiệp khó khăn khả năng thanh toán huy động không lành mạnh nền kinh tế doanh nghiệp ngân hàng nhà nước trích lập dự phòng

Chỉ điểm người đội MBH dỏm để phạt?

Sáng nay, tại Tọa đàm Mũ Bảo hiểm do Bộ Công thương tổ chức, ông Trần Hùng – Phó cục trưởng Cục Quản lý thị trường (Bộ Công thương) cho biết: sẽ xuất thí điểm đứng chốt cùng CSGT, “chỉ” người đội mũ bảo hiểm “dỏm” cho lực lượng này xử lý.

Vấn đề mũ bảo hiểm thật – giả và câu chuyện xử phạt xung quanh nó khiến dư luận rất quan tâm trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là việc không thống nhất trong quan điểm xử phạt của các cơ quan chức năng khiến người dân vẫn mơ hồ về việc này.

Chưa bắt người dân định nghĩa “mũ dỏm”

Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp – Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia, thời gian này, tỷ lệ người đội MBH đã cao hơn nhiều so với năm 2008 – thời gian đầu buộc phải đội MBH khi ngồi trên xe máy. Tuy nhiên, số người đội MBH để chống đối và không đạt chuẩn cũng cao không kém. Cụ thể, chỉ có 26% số người đội mũ đạt chuẩn, trong khi có đến 74% là không đạt.

Mặc dù, tỷ lệ người đội MBH “dỏm” khi tham gia giao thông rất lớn nhưng Thượng tá Lê Xuân Đức – Phó phòng T6, Cục CSGT đường sắt, đường bộ khẳng định: chưa bắt người dân định nghĩa thế nào là mũ bảo hiểm (MBH). Điều này có nghĩa là sẽ chưa xử phạt những trường hợp đội mũ không phải là MBH.

- 1

Chưa bắt người dân định ngĩa “mũ dỏm”

Theo vị này, trước mắt, CSGT sẽ chỉ xử phạt đối với các trường hợp không đội MBH và đội mũ nhưng không cài quai.

Đồng tình với quan điểm trên, Cục CSGT, Phó Chủ tịch UB ATGT Quốc gia Nguyễn Hoàng Hiệp cũng khẳng định: trong Thông tư 06 về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh MBH và trong tất cả các thông báo trước đó chưa bao giờ nói xử phạt người đội MBH “dỏm”.

“Để MBH dỏm tràn lan là trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Dân không có lỗi”, ông Hiệp nói.

Mặt khác, lý do chưa phạt người đội MBH dỏm còn được đại diện Cục CSGT đưa ra là do chưa có thống nhất rõ ràng trong việc nhận biết mũ thật – giả. Vị này cho rằng, ngoài việc kiểm tra giấy tờ người tham gia giao thông, CSGT không thể đề nghị họ “tháo mũ xuống kiểm tra xem có 2 hay 3 lớp như chuẩn hay không?”.

Không nhận biết được sẽ có người “chỉ, trỏ”?

Lời khẳng định “chưa phạt MBH dỏm” của đại diện Cục CSGT khiến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh MBH tỏ ra không đồng tình.

Theo các doanh nghiệp này, việc chưa xử phạt MBH dỏm khiến người dân không có ý thức mua và sử dụng MBH đạt chuẩn. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh và nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp chân chính cao.

Ông Lương Thanh Liêm, Giám đốc công ty TNHH Hùng Hậu – doanh nghiệp sản xuất MBH cho biết: nếu như các doanh nghiệp sản xuất MBH chất lượng chỉ cho ra đời 200 sản phẩm/ngày thì MBH dỏm có thể đạt 2.000 chiếc/ngày. MBH thật có giá cao hơn nên chỉ bán được 50%, còn lại là “tồn kho”, trong khi MBH dỏm bán được nhiều nếu không xử phạt.

- 2

Sắp tới sẽ thí điểm phạt người đội MBH “dỏm”

Để hỗ trợ lực lượng CSGT xử lý MBH “dỏm”, ông Trần Hùng – Cục phó Cục Quản lý thị trường (QLTT) cho biết, sắp tới sẽ đề xuất thí điểm “đứng chốt” cùng CSGT để “chỉ” người đội mũ “dỏm” cho lực lượng này xử lý.

Giải thích thêm về đề xuất này, trao đổi với phóng viên Khám phá chiều cùng ngày, ông Hùng cho biết: Đây là đề xuất của Cục QLTT dựa trên sự đồng thuận của Tổng Cục Tiêu chuẩn, Đo lường, chất lượng (TCĐLCL). Theo đó, nếu Cục CSGT đồng ý cho phép Cục QLTT và Tổng Cục TCĐLCL cùng tham gia phối hợp xử lý MBH “dỏm” thì sẽ có lực lượng “chỉ, trỏ” đâu là MBH “dỏm” cho CSGT bắt giữ. Dự kiến, nếu được Cục CSGT đồng ý, “đội chỉ, trỏ” sẽ thí điểm tại ngã tư Daewoo và quận Hoàn Kiếm.

“Chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm về việc bắt giữ này”, ông Hùng nói. “Nếu Cục CSGT không đồng ý, chúng tôi sẽ thí điểm tại các tỉnh, thành phố khác”.

Thừa nhận việc để thị trường xuất hiện loại MBH có đủ 3 bộ phận như tiêu chuẩn nhưng kém chất lượng là lỗi của cơ quan mình, tuy nhiên, ông Hùng không thừa nhận những loại mũ “không phải MBH” (mũ nhựa không có đầy đủ 3 bộ phận) là lỗi của Cục QLTT. Theo ông Hùng, Cục QLTT chỉ quản lý trên tem, nhãn mác trong khi người bán không thừa nhận đó là MBH dành cho xe máy nên không xử lý được. Mặt khác, việc xử lý những cơ sở sản xuất rất khó bởi mũ được làm nhỏ lẻ, từng bộ phận nên không dễ “bắt”.

Theo ông Hùng, những loại mũ “không phải MBH” thì cơ quan chức năng nào cũng biết rõ bởi nếu dựa vào tiêu chuẩn công bố, MBH phải có đầy đủ 3 bộ phận cơ bản là: vỏ mũ, đệm hấp thụ và quai đeo. Vì thế, loại mũ nhựa đang được lưu thông nhiều trên thị trường không thể gọi là MBH.

“Đội mũ không phải MBH không khác gì không đội mũ thì CSGT phải bắt chứ”, ông Hùng nói. “Chúng tôi đang đi mua việc của CSGT”.

Theo đề xuất của vị Phó cục trưởng này, các cơ quan ban ngành cần có sự phối hợp đồng bộ hơn nữa để ngăn chặn MBH “dỏm” để bảo vệ tính mạng cho người dân khi tham gia giao thông cũng như bảo vệ những doanh nghiệp chân chính.

Chủ trương “đổi mũ” giúp bình ổn giá MBHÔng Nguyễn Hoàng Hiệp – Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia cho biết, hiện nay đã có gần 15 doanh nghiệp tham gia chương trình “đổi MBH” cho người dân. Quan điểm của chương trình là giúp người dân tiếp cận trực tiếp với nhà sản xuất và hưởng mức giá ưu đãi nhất.

“Nếu không có chương trình đổi mũ, giá MBH chắc chắn sẽ tăng cao”, ông Hiệp nói.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc có hay không MBH được đổi không đạt chất lượng, ông Hiệp khẳng định: không có chuyện MBH đổi không đạt tiêu chuẩn.

Từ khoá: xử phạt doanh nghiệp không lành mạnh cạnh tranh không lành mạnh bão tham gia giao thông gia giao thông csgt người dân bảo hiểm thí điểm doanh nghiệp sản xuất

Sữa tăng giá, đắt như hàng xa xỉ

(VEF.VN) – Giá sữa trong nước liên tục tăng cao càng làm lộ rõ bất cập giữa thu nhập của người dân và chi tiêu dành cho mặt hàng sữa trong giỏ hàng tiêu dùng.

Từ năm 2002 đên 2010, thu nhập bình quân của người dân (tính theo mức giá thực tế) chỉ tăng 238% trong khi đó chi tiêu cho nhóm mặt hàng sữa (theo giá thực tế) tăng lên đến 484% gần gấp 2 lần mức tăng thu nhập. Như vậy sữa từ một mặt hàng thiết yếu đã trở thành mặt hàng xa xỉ trong giỏ hàng tiêu dùng của người dân thành thị của Việt Nam.

Biểu đồ thể hiện mới liên hệ giữa thu nhập và chi tiêu cho mặt hàng sữa

Thị phần của thị trường sữa bột chủ yếu tập trung vào một vài công ty lớn. Số liệu điều tra của EIM năm 2010 cho thấy 71% thị phần sữa bột Việt Nam là của bốn lớn là Abbott, Vinamilk, Mead Johnson và Fresland Campina.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương trong năm 2012, trên thị trường Việt Nam hiện tại sữa ngoại vẫn chiếm ưu thế với hơn 60% thị phần chỉ nằm trong tay một vài công ty lớn.

Trong khi đó, cầu của sữa theo giá là ít co dãn. Số liệu từ tổng cục thống kế từ năm 2002 đên 2010, thu nhập bình quân của người dân chỉ tăng 238% trong khi đó chi tiêu cho nhóm mặt hàng sữa tăng lên đến 484% gần gấp 2 lần mức tăng thu nhập cho thấy sữa đã trở thành mặt hàng xa xỉ.

Mặc dù giá sữa tăng lên cao nhưng nhu cầu người dân giảm không nhiều. Đối với nhiều bậc phụ huynh thì thì vẫn bị ảnh hưởng bởi tâm lý cho rằng sữa là một phần tất yếu cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và việc cho con cái của mình uống sữa đã như một nghĩa vụ.

Một số cuộc khảo sát nhỏ cho thấy người tiêu dùng vẫn mua, trung thành với nhãn hiệu đang sử dụng vì thói quen và tác động từ quảng cáo.

Từ kết quả phân tích chúng ta thấy rằng có hiện tượng độc quyền bán trong thị trường sữa trong khi cầu của sữa là ít co giãn. Đứng về góc độc kinh tế học, kết quả này cho thấy rằng lợi ích toàn xã hội bị thiệt hại từ hành động độc quyền này trong đó người tiêu dùng là người bị thiệt hại rất lớn do hành vi của người tiêu dùng là ít thay đổi từ việc tăng giá sữa.

Thiếu minh bạch thông tin

Trên các kênh truyền hình, chúng ta thường nghe những câu quảng cáo kiểu như “DHA sẽ giúp trẻ thông minh hơn”, những câu này tác động rất mạnh đến động lực mua sữa của người tiêu dùng. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới thì vẫn chưa có một bằng chứng, nghiên cứu nào kết luận về nội dung quảng cáo trên là đúng.

Theo báo cáo của UBND TP HCM thì chi phí quảng cáo, khuyến mãi, hội thảo của các đơn vị kinh doanh sữa rất cao: từ 30-50% tổng chi phí vượt qua rất lớn so với chi phí quy định bởi thông tư 134/2007/TT-BTC chỉ cho phép chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi… không được vượt quá 10% tổng chi phí của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đã “đội giá” của sản phẩm sữa lên rất lớn so với giá vốn hàng bán. Đây là những bằng chứng cho thấy người tiêu dùng phải chịu thiệt hại từ những thông tin không minh bạch của các doanh nghiệp kinh doanh sữa.

Quản lý yếu

Đứng về góc độc kinh tế học công cộng, khi trên thị trường có sự độc quyền hay thông tin bị sai lệch được đề cập ở trên thì chính phủ có cơ sở để can thiệp vào thị trường. Tuy nhiên thực tế của sự cạn thiệt chính phủ hiện nay là kém hiệu quả.

Luật cạnh tranh có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 nhằm tạo công cụ pháp lý hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh. Tuy nhiên trên thực tế luật cạnh tranh đã chưa phát huy vai trò trong thực tế và trên thị trường sữa. Chưa có bằng chứng nào chứng minh luật cạnh tranh đã góp phần lành mạnh hóa thị trường sữa trước tình trạng độc quyền bánvàthông tin sai lệch trên thị trường sữa.

Có rất nhiều các pháp lệnh, nghị định, thông tư cũng như các biện pháp ổn định giá khác liên quan đến việc điều tiết giá sữa và nhiều biện pháp bình ổn giá nhưng tất cả đều tỏ ra không hiệu quả. Kể từ đầu năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành 6 văn bản liên quan đến giá sữa.

Đáng chú ý là văn bản số 2080/BTC-QLG ngày 20/2/2012 đề nghị các Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp, kiểm tra, đánh giá mức hợp lý giữa tỷ lệ tăng (giảm) chi phí đầu vào so với tỷ lệ tăng giá bán.Điều này đã dẫn đến khi nhập khẩu sữa bột về, các doanh nghiệp đã pha thêm một số các chất dinh dưỡng, hương liệu và đổi tên thành thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung nhằm không phải khai báo giá mà còn bán theo giá của sản phẩm sữa.

Rõ ràng có rất nhiều văn bản hành chính được chính phủ ban hành, thậm chí chỉ trong vòng chưa đầy một tháng của năm 2012 đã có đến ba văn bản liên quan đến quản lý giá sữa tuy nhiên giá sữa bột Việt Nam vẫn tiếp tục “đắt nhất thế giới” là bằng chứng thực tế cho thấy các biện pháp hành chính hiện này là kém hiệu quả.

Tăng cạnh tranh và minh bạch thông tin

Thứ nhất nhà nước cần phát huy vai trò của luật cạnh tranh để lành mạnh hóa cạnh tranh trên thị trường sữa. Đó là cách thức hợp pháp nhất, căn bản nhất, có thể góp phần quan trọng vào việc phá vỡ sự độc quyền.Chính phủ cần phải thay thế cách điều hành thị trường thông qua các văn bản hành chính mà thay vào phải điều hành thị trường dựa trên một hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp để cho mọi đối tượng xã hội hoạt động trong khuôn khổhệ thống quy phạm pháp luật đó.

Thứ hai, chính phủ cần có chính sách cụ thể để phát triển nguồn cung sữa. Để giảm phụ thuộc vào việc nhập khẩu, chính phủ cần phải có chủ động hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, các hộ gia đìnhphát triển năng lực sản xuất trong nước.

Sau khi chúng ta gia nhập WTO, việc sử dụng các hàng rào thuế quan và mậu dịch để bảo hộ sản xuất trong nước là rất khó cho nên chúng ta có thể tiến hành bằng cách đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành sữa, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh để cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa trong nước phát triển ; hỗ trợ vốn vay tín dụng cho bà con và doanh nghiệp dân doanh phát triển đàn bò…

Nhà nước cần đảm bảo tính minh bạch thông tin trên thị trường sữa. Những biện pháp như đăng ký giá, kê khai giá, công bố thông tin về giá… sẽ góp phần vào quá trình minh bạch. Nhà nước cần điều tra, thanh kiểm tra các doanh nghiệp sữa và công bố công khai các thông tin có ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dùng . Việc thực thi các quy định về quảng cáo một cách nghiêm túc; xử lý nghiêm minh các hành vi quảng cáo sai sự thật, không có cơ sở khoa học để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

Từ khoá: doanh nghiệp sản xuất bão cạnh tranh chính phủ phát triển công bố thông tin xử lý nghiêm lợi ích cạnh tranh lành mạnh minh bạch không lành mạnh chi phí thị trường việt nam thiệt hại hiệu quả bộ tài chính việt nam nhà nước doanh nghiệp người dân gia người tiêu dùng kinh doanh thị trường quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh tiêu dùng thông tin độc quyền

Sữa tăng giá, đắt như hàng xa xỉ

Giá sữa trong nước liên tục tăng cao càng làm lộ rõ bất cập giữa thu nhập của người dân và chi tiêu dành cho mặt hàng sữa trong giỏ hàng tiêu dùng.

Từ năm 2002 đên 2010, thu nhập bình quân của người dân (tính theo mức giá thực tế) chỉ tăng 238% trong khi đó chi tiêu cho nhóm mặt hàng sữa (theo giá thực tế) tăng lên đến 484% gần gấp 2 lần mức tăng thu nhập. Như vậy sữa từ một mặt hàng thiết yếu đã trở thành mặt hàng xa xỉ trong giỏ hàng tiêu dùng của người dân thành thị của Việt Nam.

sữa, tăng giá, người tiêu dùng, đắt đỏ
Biểu đồ thể hiện mới liên hệ giữa thu nhập và chi tiêu cho mặt hàng sữa

Thị phần của thị trường sữa bột chủ yếu tập trung vào một vài công ty lớn. Số liệu điều tra của EIM năm 2010 cho thấy 71% thị phần sữa bột Việt Nam là của bốn lớn là Abbott, Vinamilk, Mead Johnson và Fresland Campina.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương trong năm 2012, trên thị trường Việt Nam hiện tại sữa ngoại vẫn chiếm ưu thế với hơn 60% thị phần chỉ nằm trong tay một vài công ty lớn.

Trong khi đó, cầu của sữa theo giá là ít co dãn. Số liệu từ tổng cục thống kế từ năm 2002 đên 2010, thu nhập bình quân của người dân chỉ tăng 238% trong khi đó chi tiêu cho nhóm mặt hàng sữa tăng lên đến 484% gần gấp 2 lần mức tăng thu nhập cho thấy sữa đã trở thành mặt hàng xa xỉ.

Mặc dù giá sữa tăng lên cao nhưng nhu cầu người dân giảm không nhiều. Đối với nhiều bậc phụ huynh thì thì vẫn bị ảnh hưởng bởi tâm lý cho rằng sữa là một phần tất yếu cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và việc cho con cái của mình uống sữa đã như một nghĩa vụ.

Một số cuộc khảo sát nhỏ cho thấy người tiêu dùng vẫn mua, trung thành với nhãn hiệu đang sử dụng vì thói quen và tác động từ quảng cáo.

Từ kết quả phân tích chúng ta thấy rằng có hiện tượng độc quyền bán trong thị trường sữa trong khi cầu của sữa là ít co giãn. Đứng về góc độc kinh tế học, kết quả này cho thấy rằng lợi ích toàn xã hội bị thiệt hại từ hành động độc quyền này trong đó người tiêu dùng là người bị thiệt hại rất lớn do hành vi của người tiêu dùng là ít thay đổi từ việc tăng giá sữa.

Thiếu minh bạch thông tin

Trên các kênh truyền hình, chúng ta thường nghe những câu quảng cáo kiểu như “DHA sẽ giúp trẻ thông minh hơn”, những câu này tác động rất mạnh đến động lực mua sữa của người tiêu dùng. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới thì vẫn chưa có một bằng chứng, nghiên cứu nào kết luận về nội dung quảng cáo trên là đúng.

Theo báo cáo của UBND TP HCM thì chi phí quảng cáo, khuyến mãi, hội thảo của các đơn vị kinh doanh sữa rất cao: từ 30-50% tổng chi phí vượt qua rất lớn so với chi phí quy định bởi thông tư 134/2007/TT-BTC chỉ cho phép chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi… không được vượt quá 10% tổng chi phí của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đã “đội giá” của sản phẩm sữa lên rất lớn so với giá vốn hàng bán. Đây là những bằng chứng cho thấy người tiêu dùng phải chịu thiệt hại từ những thông tin không minh bạch của các doanh nghiệp kinh doanh sữa.

Quản lý yếu

Đứng về góc độc kinh tế học công cộng, khi trên thị trường có sự độc quyền hay thông tin bị sai lệch được đề cập ở trên thì chính phủ có cơ sở để can thiệp vào thị trường. Tuy nhiên thực tế của sự cạn thiệt chính phủ hiện nay là kém hiệu quả.

Luật cạnh tranh có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 nhằm tạo công cụ pháp lý hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh. Tuy nhiên trên thực tế luật cạnh tranh đã chưa phát huy vai trò trong thực tế và trên thị trường sữa. Chưa có bằng chứng nào chứng minh luật cạnh tranh đã góp phần lành mạnh hóa thị trường sữa trước tình trạng độc quyền bánvàthông tin sai lệch trên thị trường sữa.

Có rất nhiều các pháp lệnh, nghị định, thông tư cũng như các biện pháp ổn định giá khác liên quan đến việc điều tiết giá sữa và nhiều biện pháp bình ổn giá nhưng tất cả đều tỏ ra không hiệu quả. Kể từ đầu năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành 6 văn bản liên quan đến giá sữa.

Đáng chú ý là văn bản số 2080/BTC-QLG ngày 20/2/2012 đề nghị các Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp, kiểm tra, đánh giá mức hợp lý giữa tỷ lệ tăng (giảm) chi phí đầu vào so với tỷ lệ tăng giá bán.Điều này đã dẫn đến khi nhập khẩu sữa bột về, các doanh nghiệp đã pha thêm một số các chất dinh dưỡng, hương liệu và đổi tên thành thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung nhằm không phải khai báo giá mà còn bán theo giá của sản phẩm sữa.

Rõ ràng có rất nhiều văn bản hành chính được chính phủ ban hành, thậm chí chỉ trong vòng chưa đầy một tháng của năm 2012 đã có đến ba văn bản liên quan đến quản lý giá sữa tuy nhiên giá sữa bột Việt Nam vẫn tiếp tục “đắt nhất thế giới” là bằng chứng thực tế cho thấy các biện pháp hành chính hiện này là kém hiệu quả.

Tăng cạnh tranh và minh bạch thông tin

Thứ nhất nhà nước cần phát huy vai trò của luật cạnh tranh để lành mạnh hóa cạnh tranh trên thị trường sữa. Đó là cách thức hợp pháp nhất, căn bản nhất, có thể góp phần quan trọng vào việc phá vỡ sự độc quyền.Chính phủ cần phải thay thế cách điều hành thị trường thông qua các văn bản hành chính mà thay vào phải điều hành thị trường dựa trên một hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp để cho mọi đối tượng xã hội hoạt động trong khuôn khổhệ thống quy phạm pháp luật đó.

Thứ hai, chính phủ cần có chính sách cụ thể để phát triển nguồn cung sữa. Để giảm phụ thuộc vào việc nhập khẩu, chính phủ cần phải có chủ động hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, các hộ gia đìnhphát triển năng lực sản xuất trong nước.

Sau khi chúng ta gia nhập WTO, việc sử dụng các hàng rào thuế quan và mậu dịch để bảo hộ sản xuất trong nước là rất khó cho nên chúng ta có thể tiến hành bằng cách đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành sữa, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh để cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa trong nước phát triển ; hỗ trợ vốn vay tín dụng cho bà con và doanh nghiệp dân doanh phát triển đàn bò…

Nhà nước cần đảm bảo tính minh bạch thông tin trên thị trường sữa. Những biện pháp như đăng ký giá, kê khai giá, công bố thông tin về giá… sẽ góp phần vào quá trình minh bạch. Nhà nước cần điều tra, thanh kiểm tra các doanh nghiệp sữa và công bố công khai các thông tin có ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dùng . Việc thực thi các quy định về quảng cáo một cách nghiêm túc; xử lý nghiêm minh các hành vi quảng cáo sai sự thật, không có cơ sở khoa học để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

Lê Hữu Đức

Từ khoá: độc quyền quảng cáo việt nam người dân công bố thông tin chính phủ người tiêu dùng cạnh tranh lành mạnh cạnh tranh không lành mạnh chi phí bộ tài chính hiệu quả thông tin gia cạnh tranh tiêu dùng lợi ích thị trường việt nam kinh doanh nhà nước doanh nghiệp xử lý nghiêm minh bạch thị trường bão không lành mạnh doanh nghiệp sản xuất thiệt hại phát triển

Xử lý vi phạm bảo hiểm, cơ quan quản lý đau đầu

(ĐTCK) Cục trưởng Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, ông Trịnh Thanh Hoan chia sẻ: “Cán bộ Cục đi thanh kiểm tra các DN bảo hiểm về nói lại là chúng tôi đau đầu lắm, không biết xử lý thế nào, xử lý nặng thì DN phản ứng, còn nếu không thì thị trường lại nhốn nháo”.

Mới dừng ở việc liệt kê tên

Đánh giá cao nỗ lực chi tiết hóa các báo cáo về thị trường của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), nhưng bên lề Hội nghị ngành bảo hiểm vừa diễn ra, không ít lãnh đạo DN lớn cho rằng, Cục này cần cụ thể hóa hơn nữa các thông tin, nhất là công khai những vi phạm bảo hiểm.

Trong báo cáo phát tại Hội nghị, thông tin về vi phạm hành chính mới chỉ dừng ở những cái tên DN được thanh kiểm tra. Chẳng hạn, trong năm 2012, 3 DN được thanh tra là Aon Việt Nam, Manulife Việt Nam và ABIC. Bên cạnh đó, 5 DN bảo hiểm phi nhân thọ (Hùng Vương, Chartis, Fubon, Groupama, Bảo Ngân) và 5 DN bảo hiểm nhân thọ (Generali, Fubon, Cathay, Vietinbank Aviva, Vietcombank-Cardif), cùng 3 DN môi giới bảo hiểm (Cimeico, Sao Việt, Jardine Lloyd Thompson) được kiểm tra toàn diện hoạt động. Ngoài ra, 10 chi nhánh/công ty thành viên của DN bảo hiểm phi nhân thọ được kiểm tra chuyên đề bảo hiểm xe cơ giới và hoa hồng bảo hiểm là PJICO, PTI, GIC, Bảo Việt.

“Năm qua, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm đã nỗ lực cho ra báo cáo chi tiết, cụ thể hơn so với năm trước đó. Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra những tồn tại, hạn chế của DN thì còn chung chung. Theo tôi, năm nay, cần chỉ rõ DN vi phạm và nêu rõ vi phạm quy tắc, điều khoản nào để các DN khác nghiên cứu, rút kinh nghiệm”, ông Trần Vĩnh Đức, Chủ tịch HĐQT Tổng CTCP Bảo Minh đề xuất.

Đề xuất trên được lãnh đạo nhiều DN khác đồng tình khi trao đổi với ĐTCK. “Cục Quản lý giám sát bảo hiểm cho biết, Cục đã theo dõi và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, xử lý các vấn đề sau thanh tra. Nhưng khi đã là vi phạm mang tính thị trường, không chỉ diễn ra ở một số ít DN thì thiết nghĩ, cần công khai chi tiết hơn cho cả thị trường, đặc biệt là những DN chưa mắc phải được biết để phòng tránh. Ngoài ra, nên công khai ngay sau khi có kết quả thanh kiểm tra, chứ không chờ đến cuối năm”, lãnh đạo một DN bảo hiểm nhân thọ nói.

Nhìn lại sai phạm của các DN bảo hiểm trong 1 năm qua, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà nhận xét, cả hai khối bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đều có sai phạm chung và cũ, đó là sử dụng đại lý chưa đủ điều kiện, chi hoa hồng cho đại lý không đúng, cạnh tranh không lành mạnh. Các DN cần sớm khắc phục những thiếu sót, bởi ngoài Cục Quản lý giám sát bảo hiểm thì còn nhiều cơ quan chức năng liên quan sẽ “soi kỹ”. Trong năm qua, cơ quan quản lý bảo hiểm đã phối hợp thanh kiểm tra phát hiện vi phạm và ra nhiều quyết định xử phạt cả DN lẫn cá nhân.

Đối với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Thứ trưởng Trần Xuân Hà yêu cầu tổ chức này cần nâng cao trách nhiệm hơn nữa trong việc giám sát các DN thành viên thực thi các quy định của pháp luật, đáp ứng kỳ vọng của thị trường.

Băn khoăn phạt nặng

Trước đề xuất công khai cụ thể vi phạm của các DN bảo hiểm, Cục trưởng Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, ông Trịnh Thanh Hoan chia sẻ, khiếm khuyết của thị trường còn nhiều và cơ quan quản lý đều biết. Cục sẵn sàng công khai hết, thậm chí muốn tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm. Vấn đề là có nên nói thẳng ra hay không. Quan trọng hơn, các DN bảo hiểm có quyết tâm, mạnh dạn làm để minh bạch hơn hay không.

Theo ông Hoan, nếu kiểm tra thì 100% DN bảo hiểm vi phạm quy định về chi trả hoa hồng/bồi thường, với các mức độ vi phạm khác nhau. Cùng một vụ việc xảy ra, nếu đưa cho 29 DN bảo hiểm phi nhân thọ thì 29 DN chi trả bồi thường khác nhau. Riêng về chi trả hoa hồng, các DN bảo hiểm, kể cả DN nước ngoài hay liên doanh đều trả hoa hồng sai quy định, ngoại trừ Samsung Vina. Về tăng mức phạt, phạt công ty mang lại hiệu quả thấp, còn phạt cá nhân vị CEO, vị chủ tịch DN dù chỉ 10 triệu đồng cũng là cả vấn đề.

“Cán bộ Cục đi thanh kiểm tra DN về nói lại là chúng tôi đau đầu lắm, không biết xử lý thế nào, xử lý nặng thì DN phản ứng, còn nếu không thì thị trường lại nhốn nháo”, ông Hoan nói.

Đó là những cái khó của cơ quan quản lý và một vài điểm khó khác cũng được lãnh đạo Cục Quản lý giám sát bảo hiểm thừa nhận trong công tác quản lý giám sát hoạt động của các DN bảo hiểm như: không ít cán bộ còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên có sự hạn chế nhất định trong việc đáp ứng yêu cầu quản lý giám sát; chưa xây dựng được hệ thống công nghệ thông tin hiện đại hỗ trợ công tác quản lý giám sát.

Năm 2013, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm sẽ:

* Thanh tra 4 DN bảo hiểm: BIC, VNI, Bảo Việt-Tokyo Marine, ACE Life.

* Kiểm tra toàn diện 5 DN bảo hiểm phi nhân thọ (Bảo Long, MIC, Liên hiệp, Cathay, MSIG) và 5 DN môi giới bảo hiểm (Marsh, Gras Savoye, Nam Á,Việt Quốc, Á Đông).

* Kiểm tra theo chuyên đề (về tài chính kế toán và quản lý đại lý) 5 DN bảo hiểm nhân thọ: Bảo Việt, Prudential, AIA, Prevoir, Great Eastern.

Từ khoá: ngành bảo hiểm bảo hiểm phi nhân thọ hùng vương quản lý bảo hiểm thị trường hoa hồng bảo hiểm quy định tài chính bão công nghệ thông tin thông tin trịnh thanh hoan bảo hiểm nhân thọ generali vi phạm bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm phi nhân thọ không lành mạnh bảo hiểm phi nhân thọ bảo long môi giới bảo hiểm manulife việt nam hiệp hội bảo hiểm việt nam nhân thọ hiệp hội bảo hiểm kiểm tra bảo hiểm phi nhân thọ việt nam bảo hiểm xe bộ tài chính cạnh tranh không lành mạnh aon việt nam khối bảo hiểm nhân thọ chi trả bồi thường bảo hiểm xe cơ giới

Vì sao những tin đồn chấn động sống được trên thị trường tài chính?

thiệt hại không lành mạnh cạnh tranh không lành mạnh trục lợi tài chính kinh tế thị trường chuyên gia chứng khoán minh bạch gia động sản hưởng lợi lợi ích ngân hàng thị trường tài chính thị trường chứng khoán thông tin bidv bất động sản đầu tư chứng khoán giới đầu tư thị trường

(Dân trí) – “Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường tài chính ngân hàng hiện nay đang có nhiều dữ liệu để cho những tin đồn xuất hiện. Và nó cũng tạo ra những động lực, lợi ích cũng như thiệt hại cho rất nhiều đối tượng có liên quan”.

>> Bộ Công an và Ủy ban Chứng khoán vào cuộc vụ tung tin đồn ngày 21/2

>> Gần 34.000 tỷ đồng “bốc hơi” vì tin đồn bắt bớ

>> Bác bỏ tin đồn “Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà bị bắt”

Đó là quan điểm của TS Nguyễn Minh Phong (ảnh) khi trao đổi với PV Dân trí.

Đó là quan điểm của TS Nguyễn Minh Phong (ảnh) khi trao đổi với PV Dân trí.

Ngày 21/2, thị trường tài chính chao đảo sau tin đồn Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà bị bắt. Điều này cho thấy điều gì, thưa ông?

Trước hết phải khẳng định, sự việc này không phải là cá biệt duy nhất và dường như đang có xu hướng mở rộng trong thời gian gần đây. Thời gian trước đã có nhiều tin đồn nguy hại được tung ra, như Ngân hàng nhà nước tiến hành đổi tiền hay nhiều nhân sự tài chính cấp cao bị đồn dính vòng lao lý thời gian trước và sau khi bầu Kiên bị bắt, đang cho thấy xu hướng lặp lại.

Nó có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất là tin đồn “ký sinh” vào kinh tế thị trường như một bạn đồng hành, trục lợi từ cách thức cạnh tranh không lành mạnh hoặc thăm dò phản ứng của xã hội nhân sự kiện nào đó.

Thứ 2, nó cho thấy kẽ hở của pháp lý. Tôi cho rằng, quy định xử lý những kẻ tung ra tin đồn chưa nghiêm nên các tin đồn nguy hại vẫn có đất tồn tại.

Thứ 3, một lần nữa cho thấy sự bất cập của cơ chế thông tin. Nếu như các thông tin nhằm minh bạch hóa được đưa ra kịp thời hơn, các phản ứng trước những tin đồn đó nhanh nhạy, hiệu quả hơn thì sẽ nhanh chóng phát huy hiệu quả, không để lại hậu quả.

Các tin đồn lan tỏa và gây nhiều thiệt hại như vậy, có thể nói gì về vai trò và trách nhiệm của các cơ quan quản lý?

Như tôi đã nói, cơ chế phản ứng với các tin đồn của mình còn bất cập. Cả về pháp lý cũng như về mặt xã hội. Xã hội thì phần nào đó mình thông cảm vì dân thì thiếu thông tin. Vả lại, tin đồn được đưa ra lại thuộc diện nhạy cảm như vậy, do vậy, họ có động lực để duy trì và… háo hức nghe.

Còn về phía các cơ quan chức năng, cần tiếp tục có thay đổi, cải tiến cơ chế giải trình và cơ chế minh bạch các thông tin. Nếu như các thông tin dạng này mà có cơ chế kiểm chứng minh bạch thì hết ngay. Nhưng vướng ở chỗ, các thông tin đối chiếu so sánh phản chứng thì không có. Các cơ chế giải trình chưa đầy đủ, cụ thể nên các tin đồn vẫn còn đất để tồn tại.

Ngoài ra, trong bối cảnh hiện thị trường như hiện nay, những tin đồ như vậy có mảnh đất màu mỡ để phát triển?

Đúng. Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường tài chính ngân hàng hiện nay đang có nhiều dữ liệu để cho những tin đồn kiểu đấy xuất hiện. Và nó cũng tạo ra những động lực, lợi ích cũng như thiệt hại cho rất nhiều đối tượng có liên quan.

Trong đó, đặc biệt là hiện tượng gây sóng trên thị trường chứng khoán. Việc mất các giá trị chứng khoán trên thị trường trong thời gian ngắn cũng giống như một điểm đặc trưng của kinh doanh bất động sản. Một tin đồn chỉ trong nháy mắt có thể để lại hậu quả rất nghiêm trọng.

Đây chính là cơ chế để giới đầu cơ tạo sóng và tranh thủ hớt sóng. Nhưng theo nghiên cứu của tôi, có dấu hiệu cho thấy nhiều nhà đầu cơ lại chịu thiệt hại nặng do chính sóng của mình tạo ra. Họ đã không làm chủ được “sóng” này. Vì thế các nhà đầu tư cũng như cơ quan chức năng phải hết sức chú ý.

Chỉ trong một thời gian ngắn, giới đầu tư chứng kiến liên tiếp hai tin đồn là phá giá tiền đồng và Chủ tịch BIDV bị bắt. Theo ông, ai sẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất từ những tin đồn này?

Tôi cho rằng, tin phá giá tiền đồng không phải tin đồn mà chỉ là hệ quả của một số trả lời phỏng vấn của chuyên gia này, chuyên gia khác, báo chí giật lên làm title, thu hút bạn đọc. Ngân hàng nhà nước đã kịp thời trả lời, giải tỏa nghi ngại và áp lực.

Hơn nữa, tin đồn đó chỉ gây ra hiện tượng tăng giá nhất thời, mang lại nguồn lợi không lớn cho vài “ông” buôn lậu đô la nhỏ lẻ, không tạo sóng “dữ” như tin đồn bắt giữ ông Trần Bắc Hà sau đó.

Người hưởng lợi lớn nhất từ tin đồn này chắc chắn là những người lướt sóng, biết xử lý kịp thời các thông tin về tạo sóng và lướt sóng để trục lợi từ thị trường chứng khoán.

Nếu có tìm ai được hưởng lợi nhiều nhất, thì tìm ở hai nhóm. Thứ nhất là nhóm cạnh tranh với nạn nhân bị tung tin đồn, thứ 2 là những người chuyên mua bán lớn. Thí dụ như trong vụ tin đồn liên quan đến ông Trần Bắc Hà, nhà đầu tư nào mua vào các cổ phiếu liên quan thì chắc chắn nằm trong diện tình nghi có liên quan trực tiếp đến tin đồn.

Bài học gì cho các nhà đầu tư sau sự việc này, thưa ông?

Nhà đầu tư chứng khoán, đặc biệt là những người có liên quan về lợi ích với công ty bị tung tin đồn phải hết sức thận trọng. Một là trực tiếp tìm hiểu các thông tin chính thống, kể cả gọi điện thoại trực tiếp tới nơi bị tung tin, cơ quan chức năng hoặc các chuyên gia để có ý kiến phản hồi chính thức.

Thứ hai là quan sát một cách tinh tường hơn những động thái có liên quan. Ví dụ khi tìn đồn bắt ông Trần Bắc Hà bung ra, xuất hiện hiện tượng mua vét nhiều chứng khoán thì dứt khoát đó là tin nhiễu nhằm trục lợi bất chính.

Tôi nhấn mạnh, phải biết cách quan sát để nắm bắt được đúng trạng thái tin đồn để không trở thành nạn nhân hay không làm nặng nề hơn hậu quả mà tin đồn mang lại.

Phúc Hưng (thực hiện)

lợi ích kinh tế thị trường không lành mạnh minh bạch hưởng lợi thị trường đầu tư chứng khoán cạnh tranh không lành mạnh chuyên gia bidv chứng khoán giới đầu tư thị trường chứng khoán động sản gia thiệt hại thị trường tài chính bất động sản tài chính ngân hàng thông tin trục lợi

Muốn bay phải có vốn lớn

dịch vụ không lành mạnh khai thác máy bay kế hoạch cạnh tranh không lành mạnh thị trường kinh doanh người tiêu dùng hàng không bão gia công ty hàng không lao động cạnh tranh tài chính cung cấp bộ tài chính chi phí thế giới nội địa tổng giám đốc sửa chữa phát triển hiệu quả trang thiết bị

Ông Lại Xuân Thanh – cục trưởng Cục Hàng không VN – cho rằng không riêng gì VN mà đặc thù của kinh doanh hàng không trên toàn thế giới là “phải cầm chắc lỗ ít nhất 2-3 năm”.

Do đó, các hãng hàng không muốn bay phải chuẩn bị phương án lỗ kéo dài, có vốn rất lớn.

Muốn bay phải có vốn lớn 0

Giới kinh doanh hàng không cả thế giới đều học nằm lòng câu nói cửa miệng “kinh doanh hàng không rất dễ trở thành triệu phú nếu như anh là tỉ phú”.

Ông Thanh nói: giới kinh doanh hàng không cả thế giới đều học nằm lòng câu nói cửa miệng “kinh doanh hàng không rất dễ trở thành triệu phú nếu như anh là tỉ phú”. Hãng hàng không muốn bay phải chuẩn bị phương án lỗ kéo dài, có vốn rất lớn mới có thể chịu lỗ trong vài năm kinh doanh. Hãng hàng không mạnh về tiềm lực và “sung sức lắm” thì mới dám đặt kế hoạch từ năm thứ ba hoạt động bắt đầu hòa vốn. Bài học của Hãng hàng không Air Mekong, ngoài tình hình thị trường hành khách đi lại trong năm 2012 giảm mạnh thì chiến lược dùng máy bay không hợp lý đã ảnh hưởng mạnh đến tình hình kinh doanh của hãng, buộc phải trả máy bay và tạm ngưng bay, cải tổ.

Năm 2013, thông tin từ Tổng công ty Hàng không VN (VNA) cho biết đơn vị này buộc phải tính toán lại việc hoãn nhận thêm các máy bay Airbus A321 mới để tránh tình trạng quá nhiều máy bay, trong khi sức mua thị trường thì không tăng.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, có một số sân bay như Hải Phòng, Quy Nhơn, Huế đường băng có giới hạn không cho phép máy bay Airbus A321 (chiếm phần lớn trong đội bay của VNA) cất và hạ cánh, VNA sẽ chuyển giao khai thác các đường bay này cho JPA. Chắc chắn sẽ có một cuộc cạnh tranh về giá khốc liệt giữa các hãng hàng không với nhau và người tiêu dùng sẽ hưởng lợi.

Các hãng hàng không nội cho rằng doanh thu của họ hiện nay khá chênh lệch với các khoản chi và cần nhiều chính sách để hỗ trợ họ tồn tại và phát triển.

Phải thừa nhận công tác quản lý giá chưa hiệu quả dẫn đến giá cước vận tải hàng không vẫn cao hơn so với khu vực. Tình hình này buộc các hãng phải cơ cấu lại tổ chức, cắt giảm chi phí để tăng tính cạnh tranh, mà muốn vậy phải bớt lời, không thì lại đổ hết lên đầu hành khách. Thu nhập của hãng hàng không là vé (tính bằng đồng VN) đã được Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải (GTVT) chấp nhận nâng giá trần để gỡ khó cho các hãng hàng không.

Cụ thể, từ tháng 12/2011, trần giá vé chặng Hà Nội – TP.HCM đã được đẩy lên khá cao (20-25%) để các hãng tự quyết giá vé trong khi vẫn đảm bảo được yếu tố quản lý giá của Nhà nước. Mọi người phàn nàn giá vé máy bay cao nhưng thực tế, chỉ những người đăng ký trễ mới phải mua vé với giá cao, còn mức giá trung bình mỗi chuyến của chặng này chỉ khoảng 1,4 triệu đồng.

Nhưng chi phí về nhân lực cũng là gánh nặng của các hãng hàng không, nhiều hãng phải thuê mua ngoài 100% về phi công, thưa ông?

Chúng tôi cũng có phần trách nhiệm ở vai trò quản lý nhà nước như đào tạo nguồn nhân lực…còn kém để các hãng phải bỏ quá nhiều chi phí thuê mướn lao động nước ngoài, giá cao. Hãng Air Mekong sau bao lâu hoạt động vẫn phải mua ngoài 100% nguồn nhân lực về phi công, khai thác, kỹ thuật của nước ngoài. Hãng hàng không giá rẻ VietJet Air cũng phải thuê mướn bên ngoài 100% phi công, thuê mướn lao động nước ngoài bảo trì, bảo dưỡng máy bay.

Chúng ta chưa đủ sức để cung cấp cho các hãng hàng không nguồn nhân lực đủ trình độ, tiêu chuẩn của ngành hàng không để thiết lập hệ thống khai thác, bảo đảm về mặt kỹ thuật, chuyên môn trong ngành. Thực tế số lượng nhân viên hàng không được đào tạo trong nước mới chỉ đạt 53% tổng số lao động. Công tác bảo trì, sửa chữa thiết bị chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức.

Công tác quản lý vận hành, khai thác tại các cảng hàng không chưa hiệu quả dẫn đến chi phí ở một số cảng còn cao lại đổ lên đầu hãng hàng không. Công tác bảo dưỡng, sửa chữa động cơ máy bay phải phụ thuộc hoàn toàn vào doanh nghiệp nước ngoài. Số phi công nước ngoài chiếm tỉ lệ cao, trên 47%. Tất cả yếu tố này làm chi phí đầu vào của hãng hàng không tăng cao hơn hẳn các nước trong khu vực.

Chi phí cao ở sân bay cũng là gánh nặng của các hãng hàng không. Cục sẽ giải quyết chuyện này như thế nào?

Trong bối cảnh nhạy cảm như hiện nay, tôi cho rằng Bộ Tài chính và Bộ GTVT đã xử lý khá tốt mối quan hệ này. Từ đầu năm 2012, bộ trưởng Bộ GTVT đã có những chỉ thị mạnh mẽ để tháo gỡ khó khăn cho các hãng hàng không. Mới vừa rồi có nhiều chính sách giảm một số giá dịch vụ, thậm chí bỏ một số giá dịch vụ lai dắt máy bay vào bãi đậu hay ra đường băng. Sắp tới sẽ giảm tiếp một số giá phí dịch vụ. Về mặt lâu dài, bộ trưởng đã giao Vụ Tài chính xem xét phân chia lại giá dịch vụ hàng không tiến tới điều chỉnh giá cước cho phù hợp. Cục Hàng không phải rà soát, chỉnh sửa đánh giá tổng thể số lượng cảng hàng không đang hoạt động, số lượng cảng dự kiến nâng cấp cải tạo, xây mới so với nhu cầu thực tế, từ đó kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với tình hình VN.

Có hãng hàng không đề nghị cục cấp quota bay nội địa để hạn chế tình trạng bay quá nhiều, phá giá dẫn đến lỗ lớn, ông nhận được đề nghị này chưa?

Đúng là có hãng đề nghị mở quota để tránh sự cạnh tranh khốc liệt khi thị trường nội địa quá yếu dẫn đến triệt hạ lẫn nhau. Họ còn đề nghị phải đưa ra giá sàn trên các đường bay để hạn chế chuyện phá giá, cạnh tranh không lành mạnh… Chúng tôi đang xem xét và cân nhắc kỹ nên chưa đưa ra kết luận vì cái gì cũng có hai mặt của nó. Nếu yêu cầu các hãng không được giảm giá thì không được, nhưng cứ để thả tự do có khi lại làm hại sự phát triển chung của cả ngành hàng không. Đây là bài toán khó buộc phải tính toán.

Sắp tới cục sẽ quy hoạch phát triển mạng đường bay phải tập trung khai thác hiệu quả các sân bay lớn và mạng đường bay nội địa; phải đảm bảo phù hợp với nhu cầu, tốc độ phát triển của nhiều hãng hàng không. Định hướng phát triển công nghiệp hàng không vào các dịch vụ bảo trì, sửa chữa trang thiết bị hàng không.

Chi phí “ăn” hết

Giám đốc điều hành VietJet Air (VJA) Lưu Đức Khánh thừa nhận khả năng phải lỗ trong vòng ba năm đầu đã được HĐQT của hãng xác định ngay từ khi lập kế hoạch kinh doanh: “Chúng tôi cũng chuẩn bị một tiềm lực tài chính để đối phó, chịu đựng ít nhất là ba năm từ khi bắt đầu lập kế hoạch kinh doanh hàng không”. Ông Khánh cũng khẳng định kinh doanh hàng không mà phải gần như thuê mướn hoàn toàn các hệ thống cung cấp dịch vụ, hậu cần, phi công, phụ tùng… sẽ đội chi phí lên rất nhiều.

Chi phí hạ tầng ở VN (chiếm 5-7% chi phí giá thành) vẫn còn cao do chưa có nhiều nhà cung cấp. Theo ông Khánh, toàn bộ dịch vụ VJA thuê ở sân bay Suvarnabhumi (Bangkok) nhưng lại rẻ hơn chi phí thuê tại sân bay Tân Sơn Nhất. Tổng giám đốc Hãng hàng không tư nhân Air Mekong Đoàn Quốc Việt cũng cho biết ước số tải trung bình hơn 80%, thậm chí có những ngày lên đến 90% nhưng “càng bay càng lỗ vì giá vé bán thấp so với thực chi, sức mua của thị trường thì kém”.

Lãnh đạo các hãng hàng không cho biết để huề vốn với các chi phí đầu vào tăng (chủ yếu phải chi bằng USD trong khi tiền bán vé thu về bằng VND), giá vé trung bình chặng TP.HCM – Hà Nội phải là 1,4 triệu đồng/chiều (chưa thuế và phí) với tỉ lệ chỗ trên các chuyến bay phải là 90%.Trong khi đó, giá vé trung bình chặng này đang được các hãng hàng không bán giá trung bình 1,2 triệu đồng/chiều (chưa kể thuế và phí).

Theo Lê Nam

Tuổi trẻ

dịch vụ không lành mạnh sửa chữa tổng giám đốc hàng không bộ tài chính cạnh tranh kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh thị trường kế hoạch phát triển công ty hàng không cung cấp khai thác lao động hiệu quả gia tài chính nội địa bão máy bay trang thiết bị người tiêu dùng thế giới chi phí