Nhà nước chỉ đầu tư một số hạng mục sân bay Long Thành

Nhà nước chỉ đầu tư một số hạng mục sân bay Long Thành

Lê Anh

Bộ GTVT cho rằng việc mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất là không khả thi nên cần thiết phải xây dựng sân bay Long Thành – Ảnh: Anh Quân

(TBKTSG Online) – Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) khẳng định việc xây dựng sân bay Long Thành sẽ được phân kỳ đầu tư làm 3 giai đoạn và Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn.

>> Xem xét kiến nghị không nên xây sân bay Long Thành

>> 10.000 tỉ đồng giải tỏa đền bù dự án sân bay Long Thành

>> Dự kiến khởi công sân bay Long Thành năm 2015

Đây là trả lời của Bộ GTVT gửi Văn phòng Chính phủ về kiến nghị không xây sân bay Long Thành của ông Lê Trọng Sành và ông Mai Trọng Tuấn.

Báo cáo của Bộ GTVT nêu rõ dự báo lượng hành khách thông qua sân bay Tân Sơn Nhất năm nay đạt khoảng 19 triệu lượt. Từ năm 2018 đến năm 2020 sẽ tăng lên 20-25 triệu hành khách/năm và sẽ quá tải vào những năm sau đó. Tuy nhiên, việc mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất để đáp ứng nhu cầu khai thác là rất khó thực hiện do sân bay này chỉ có 2 đường hạ cất cánh song song dạng đóng nên rất khó nâng công suất.

Nếu đầu tư thêm một đường hạ cất cánh tương đương về phía Bắc của sân bay cũng không khả thi do sân bay nằm trong khu vực dân cư dày đặc và các đường phố chính đã giới hạn khu vực này. Đồng thời, quỹ đất dành cho phát triển mở rộng rất hạn chế nên cũng khó phát triển hệ thống giao thông khi nâng công suất khai thác. Việc mở rộng để nâng công suất sân bay Tân Sơn Nhất sẽ ảnh hưởng đến môi trường của khu vực trung tâm như tiếng ồn, khí thải vượt xa tiêu chuẩn cho phép.

Sau khi tổ chức hội thảo lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan và chuyên gia về quy mô và phân kỳ đầu tư của sân bay Long Thành vào đầu tháng 7-2013, Bộ GTVT đã tiếp thu và chỉnh sửa một số phần. Cụ thể, phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 với công suất 25 triệu hành khách/năm và 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm với tổng mức đầu tư cho toàn bộ giai đoạn 1 khoảng 7,8 tỉ đô la Mỹ.

Trong điều kiện khó khăn, trước mắt chỉ đầu tư khoảng 5,6 tỉ đô la để có thể xây dựng ngay một đường cất hạ cánh và nhà ga nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách vào năm 2022.

“Nguồn vốn đầu tư thực hiện sẽ được gắn với các dự án cụ thể, theo nguyên tắc Nhà nước chỉ đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư phần kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn đầu tư, khuyến kích tư nhân đầu tư vào các hạng mục dịch vụ khai thác, có khả năng thu hồi vốn đầu tư”, trích báo cáo của Bộ GTVT.

Về vị trí xây dựng, Bộ GTVT cho biết việc khảo sát, quy hoạch vị trí sân bay Long Thành đã được thực hiện từ năm 2004. Vị trí được chọn đảm bảo các tiêu chí trong việc vận chuyển hành khách, hàng hóa đi đến khu vực TPHCM và cả khu vực phía Nam.

Khu vực xây dựng sân bay Long Thành có địa hình, địa chất, thủy văn không quá phức tạp, khối lượng đào đắp ít, mặt bằng tương đối bằng phẳng nên rất thuận lợi cho việc xây dựng.

Hai phương án khác là mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Biên Hòa cũng được nghiên cứu toàn diện để so sánh như khoảng cách tính từ trung tâm thành phố, giao thông tiếp cận, diện tích đất yêu cầu và chi phí giải phóng mặt bằng, tác động môi trường… Kết quả so sánh cho thấy phương án tối ưu là xây dựng sân bay Long Thành.

Trước đó, hai ông Lê Trọng Sành (nguyên Trưởng phòng quản lý sân bay Tân Sơn Nhất) và ông Mai Trọng Tuấn (cựu phi công đoàn bay 919) đã có văn bản kiến nghị Chính phủ không nên xây sân bay Long Thành vì chi phí đầu tư quá lớn, việc mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất vẫn có thể thực hiện được.

Từ khoá: khai thác bão mở rộng xây dựng hành khách giao thông

Tập đoàn Bảo Việt: Tăng trưởng ổn định, vững chắc trong bối cảnh thị trường nhiều khó khăn

PV.

Tin liên quan:

Hội nghị tập huấn công đoàn Tập đoàn Bảo Việt Tập đoàn Bảo Việt: “Mở rộng tầm nhìn” để phát triển bền vững Tập đoàn Bảo Việt hai năm liên tiếp đạt giải đặc biệt báo cáo thường niên Tập đoàn Bảo Việt: Tăng trưởng ổn định, vững chắc trong bối cảnh thị trường nhiều khó khăn

Doanh thu khai thác mới bảo hiểm nhân thọ tăng trưởng 32% so với 6 tháng đầu năm 2012. Nguồn: baoviet.com.vn

Tăng trưởng ổn định

Trong 6 tháng đầu năm, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm, nợ xấu đang là gánh nặng cho nền kinh tế. GDP 6 tháng đầu năm 2013 ước tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012, với tốc độ tăng xấp xỉ mức tăng cùng kỳ năm 2012 nhưng thấp hơn nhiều mức của cùng kỳ năm 2010 và 2011.

Ông Hoàng Việt Hà, Giám đốc Hoạt động Tập đoàn Bảo Việt cho biết: “Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, trên cơ sở những nền tảng phát triển vững chắc đã được xây dựng, Bảo Việt vẫn đạt được mức tăng trưởng khả quan. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 10,3%, doanh thu khai thác mới bảo hiểm nhân thọ tăng trưởng 32% so với 6 tháng đầu năm 2012.”

Báo cáo của Tập đoàn Bảo Việt cũng cho biết, tổng doanh thu hợp nhất đạt 7.997 tỷ đồng, tăng 280 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 3,6%. Tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đạt 5.481 tỷ đồng, tăng 507 tỷ đồng so với 6 tháng năm 2012, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 10,3%. Đặc biệt, doanh thu khai thác mới bảo hiểm nhân thọ đạt 708 tỷ đồng, tăng trưởng 32% so với cùng kỳ năm 2012.

Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 575 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu (tại ngày 30/6/2013) đạt 12.523 tỷ đồng, tăng 409 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 3,4%; tổng tài sản đạt 48.803 tỷ đồng, tăng 2.578 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 5,6% so với thời điểm 31/12/2012.

Đối với kết quả kinh doanh của Công ty Mẹ – Tập đoàn Bảo Việt, doanh thu Công ty Mẹ đạt 785 tỷ đồng, tăng 100 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 14,6%, đạt 55,6% kế hoạch năm 2013. Lợi nhuận sau thuế đạt 598 tỷ đồng, tương đương 101,6% so với cùng kỳ năm 2012, hoàn thành 54,3% kế hoạch năm 2013.

Ra mắt nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, đẩy mạnh bán chéo sản phẩm

Với mục tiêu mang lại giá trị gia tăng, cam kết phục vụ hàng triệu khách hàng, trong 6 tháng đầu năm, Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ; không ngừng đầu tư phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.

Bảo hiểm Bảo Việtra mắt sản phẩm bảo hiểm sức khỏe Medical Care phiên bản mới được thiết kế với mức trách nhiệm tối đa cho chi phí nằm viện do ốm đau, bệnh tật và tai nạn lên tới 3 tỷ đồng. Khách hàng của Bảo hiểm Bảo Việt còn có thêm lựa chọn với sản phẩm Bảo hiểm Sức khỏe OCB-Care với nhiều tính năng ưu đãi. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2013, Bảo hiểm Bảo Việt hoàn thành tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng, góp phần nâng cao biên khả năng thanh toán, năng lực khai thác, tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng khả năng giữ lại đối với các dịch vụ bảo hiểm có hiệu quả, từ đó tăng giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế và dự kiến giữ được xu hướng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm sau cao hơn năm trước.

Bảo Việt Nhân thọđã bắt đầu triển khai sản phẩm bổ trợ chi phí phẫu thuật và nằm viện, đồng thời ra mắt gói giải pháp tài chính mới An Hưng Thịnh Vượng dành cho khách hàng cá nhân cao cấp hoặc doanh nghiệp. Sản phẩm bảo hiểm tiết kiệm này cam kết đóng phí chỉ một lần, chi trả tới 100% phí đóng khi Hợp đồng đáo hạn cùng lãi đầu tư ổn định, hấp dẫn. Với khách hàng đóng mức phí cao từ 500 triệu đồng trở lên sẽ hưởng mức chi trả lên tới 200% phí bảo hiểm đã đóng cùng quyền lợi bảo hiểm bổ sung với mức bảo vệ được gia tăng thêm 250 triệu đồng.

Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) vừa chính thức ra mắt hệ thống giao dịch BVS@Bloomberg cho phép kết nối trực tiếp đến mạng Bloomberg thông qua giao thức FIX (Financial Information Exchange) – giao thức điện tử tiêu chuẩn quốc tế trong việc đặt lệnh và lưu thông thông tin trước, trong và sau quá trình giao dịch giúp khách hàng quản lý, cập nhật kết quả giao dịch nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, BVSC đã trở thành đơn vị bảo lãnh phát hành chính và duy nhất toàn bộ 1.500 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu loại kỳ hạn 15 năm trong lần đầu tiên kể từ năm 2006 Kho Bạc Nhà nước phát hành trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn 15 năm và theo hình thức bảo lãnh.

Kinh doanh đa lĩnh vực dịch vụ tài chính, Bảo Việt có lợi thế cung cấp dịch vụ bán chéo sản phẩm, dịch vụ bancasurance, dịch vụ thanh toán… nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất, đem lại sự hài lòng và gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp. Trong 6 tháng đầu năm 2013, Bảo Việt đạt được kết quả khả quan trong bán chéo sản phẩm và sử dụng dịch vụ chung. Cụ thể, doanh thu bán chéo sản phẩm của Bảo hiểm Bảo Việt qua Ngân hàng Bảo Việt tăng trưởng 52% so với cùng kỳ, doanh thu bán chéo sản phẩm của Bảo hiểm Bảo Việt qua Bảo Việt Nhân thọ tăng 31% so với cùng kỳ năm 2012.

Bên cạnh đó, việc ra mắt Trung tâm Dịch vụ khách hàng đã giúp Bảo Việt đạt được bước tiến lớn trong chiến lược hướng tới khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ và thiết lập được một kênh giao tiếp quan trọng với khách hàng. Thông qua đầu số hotline chung 1900 55 88 99, khách hàng của Bảo Việt được tư vấn về các sản phẩm như Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm con người,… hỗ trợ khiếu nại bồi thường, cũng như phúc đáp phản ánh và khảo sát mức độ hài lòng.

Nâng tầm thương hiệu, phát triển bền vững

Thương hiệu Bảo Việt tiếp tục được khẳng định trên thị trường trong nước và quốc tế thông qua các giải thưởng uy tín dành cho Báo cáo Thường niên, Báo cáo Phát triển bền vững, Thương vụ Bảo Việt – HSBC được vinh danh là “Thương vụ phát hành riêng lẻ tiêu biểu nhất 2009-2013” tại Diễn đàn M&A Việt Nam 2013. BVSC được vinh danh là “Công ty tư vấn M&A tiêu biểu nhất giai đoạn 2009 – 2013” vì những đóng góp cho thị trường M&A Việt Nam cũng như giá trị những thương vụ mà công ty đã trực tiếp tư vấn. Đây là sự ghi nhận cho những nỗ lực của Bảo Việt trong việc hiện thực hóa chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Trong 6 tháng đầu năm 2013, Tập đoàn Bảo Việt cũng công bố chiến lược phát triển bền vững tập trung vào việc thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng kinh tế vững chắc trong dài hạn, kết hợp với thực hiện các mục tiêu xã hội và môi trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan cũng như tích cực triển khai các hoạt động thể hiện trách nhiệm với cộng đồng. Tính đến nay, Bảo Việt đã đầu tư hơn 80 tỷ đồng cho các hoạt động xóa đói giảm nghèo, phát triển thế hệ trẻ và các hoạt động an sinh cho các huyện nghèo theo chương trình 30A của chính phủ tại Quế Phong (Nghệ An) và Pắc Nặm (Bắc Kạn), thực hiện các hoạt động đền ơn đáp nghĩa và quan trọng hơn nữa là hỗ trợ giáo dục cho thế hệ tương lai của đất nước.

Từ khoá: quyền lợi bảo hiểm bvsc kinh doanh tập đoàn sản phẩm bảo hiểm sức khỏe kinh doanh bảo hiểm chiến lược phát triển vụ bảo hiểm phí bảo hiểm trung tâm dịch vụ khách hàng doanh thu phí bảo hiểm gốc khả năng thanh toán doanh nghiệp chất lượng sản phẩm vốn điều lệ triển khai sản phẩm phí bảo hiểm gốc chất lượng dịch vụ bảo hiểm bão bảo việt khách hàng bảo hiểm bảo hiểm xe phát triển gia phi nhân thọ chi phí phẫu thuật tổng tài sản hỗ trợ giáo dục giải pháp tài chính tăng vốn điều lệ nền kinh tế kết quả sản phẩm bảo hiểm m&a chi phí nằm viện khai thác hãng bảo hiểm khách hàng cá nhân hoạt động kinh doanh bảo hiểm nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính chiến lược kinh tế lợi nhuận bảo hiểm sức khỏe tập đoàn bảo việt doanh thu phí bảo hiểm dịch vụ sản phẩm mới bảo hiểm xe cơ giới khách hàng công ty chi phí tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm gốc bảo hiểm con người bảo việt nhân thọ sản phẩm dịch vụ bảo hiểm doanh thu bảo hiểm bảo việt nhân thọ giá trị gia tăng mức trách nhiệm

Bảo hiểm xe cơ giới: Vừa làm vừa lo dẹp hậu quả

(ĐTCK) Bung ra quá nhanh và rầm rộ, nên giờ nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang phải lo dọn dẹp hậu quả của việc không kiểm soát nổi ấn chỉ (giấy chứng nhận) bảo hiểm xe gắn máy – tiền thu vào không khớp với ấn chỉ phát ra.

Việc mất ấn chỉ bảo hiểm tạo ra rất nhiều hệ lụy khi có yêu cầu bồi thường

Đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thừa nhận, phát triển bán lẻ là việc không dễ dàng. “Dù khi phát ấn chỉ cho đại lý, các đơn vị đều làm đúng quy trình giao, ký nhận số xêri ấn chỉ và quy định mức phạt khi làm mất ấn chỉ, nhưng có những thời điểm, ấn chỉ được phát ra quá nhiều, khiến đại lý và các cộng tác viên không kiểm soát được, dẫn đến thất thoát”, vị đại diện trên nói và cho biết, việc mất ấn chỉ tạo ra rất nhiều hệ lụy khi có yêu cầu bồi thường.

Thực tế, việc mất ấn chỉ không phải là câu chuyện mới đối với bảo hiểm phi nhân thọ, dù đường đi của những quyển ấn chỉ này là cả một quy trình. Công ty bảo hiểm nào cũng có một bộ phận quản lý ấn chỉ. Khi các phòng khai thác lên nhận ấn chỉ đều phải ký nhận số xêri, sau đó phát lại cho các khai thác viên và khai thác viên giao cho đại lý cũng với quy trình giao nhận tương tự.

“Quy trình là như vậy, nhưng vì làm vội, làm nhiều, nên kiểu gì chả có sai sót. Hơn nữa, các công ty bảo hiểm cũng chỉ có thể kiểm soát quy trình giao nhận ấn chỉ đến khâu khai thác viên giao cho đại lý, còn khi đại lý giao cho các cộng tác viên thì rất khó kiểm soát”, đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm từng bị mất khá nhiều ấn chỉ thừa nhận.

Chính “hậu trường” của việc bán bảo hiểm xe cơ giới (xe gắn máy) đang còn khá bừa bộn như vậy là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp bảo hiểm không dám mạnh tay mở rộng nghiệp vụ này trong những tháng cuối năm 2013. Một lý khác là, thời gian qua, một số doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) chủ xe cơ giới với mức phí thấp hơn biểu phí do Bộ Tài chính quy định và đã bị Cục Quản lý giám sát bảo hiểm “sờ gáy”. Được biết, cơ quan này đã phối hợp với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức 3 đợt kiểm tra trên 10 tỉnh, thành phố và sẽ tiếp tục kiểm tra, rà soát và xử lý nghiêm doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi vi phạm về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành, các doanh nghiệp không dễ buông mảng bán lẻ màu mỡ cả về doanh thu và thị phần này. Có thể các doanh nghiệp chỉ tạm lắng một thời gian. Thực tế, song song với việc giải quyết hậu trường việc bán bảo hiểm xe gắn máy, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn đang đẩy mạnh khai thác bảo hiểm ô tô.

Ông Phạm Trường Khánh, Giám đốc Marketing của Bảo hiểm Liberty cho biết, thời gian gần đây, thị trường ô tô có khá nhiều tín hiệu tích cực khi sức mua tăng trở lại. Đặc biệt, thị trường xe ô tô cũ đang trở nên nhộn nhịp hơn nhờ vào việc giảm thuế trước bạ xuống còn 2%.

“Chúng ta có thể lạc quan về sự tăng trưởng của mảng bảo hiểm xe ô tô trong thời gian tới”, ông Khánh nói.

Nhận định thị trưởng bảo hiểm xe ô tô sẽ có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là mảng bảo hiểm xe ô tô cũ, nên mới đây, Liberty Việt Nam đã có những động thái đón trước thị trường với việc sẽ tặng thêm bảo hiểm cháy và lật xe cho các hợp đồng Bảo hiểm Đâm va – Liberty MyCar được phát hành đến hết ngày 15/10/2013.

Trong khi đó, từ nay đến hết tháng 10/2013, Bảo hiểm PTI lại tung ra chương trình khuyến mại “Bảo hiểm ô tô – Zinh về nhà hát” dành cho tất cả khách hàng tham gia mua bảo hiểm vật chất ô tô của PTI với nhiều quà tặng hấp dẫn. PTI hiện đang là doanh nghiệp lớn thứ 3 về bảo hiểm xe cơ giới với gần 12% thị phần.

“Những tháng cuối năm 2013 sẽ là khoảng thời gian đầy thách thức với các doanh nghiệp bảo hiểm đang quyết tâm đẩy mạnh mảng bảo hiểm cá nhân, đặc biệt là bảo hiểm xe cơ giới. Bởi không chỉ các doanh nghiệp có thị phần nhỏ mà hầu hết doanh nghiệp có thị phần lớn cũng đang quyết tâm giành giật thị phần mảng bảo hiểm này”, đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm cho biết.

Từ khoá: liberty thị trường ô tô bảo hiểm xe mua bảo hiểm pti thị trường bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm yêu cầu bồi thường hiệp hội bảo hiểm việt nam chương trình khuyến mại chứng nhận bảo hiểm bảo hiểm liberty đồng bảo hiểm thị trường mua bảo hiểm vật chất doanh nghiệp bảo hiểm bộ tài chính khai thác bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ quy trình bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự doanh nghiệp bảo hiểm vật chất cộng tác viên nhân thọ bảo hiểm pti khai thác khai thác viên giấy chứng nhận bão trách nhiệm dân sự bảo hiểm cháy phi nhân thọ bảo hiểm bắt buộc xử lý nghiêm bảo hiểm phi nhân thọ thị phần bảo hiểm xe cơ giới bảo hiểm cá nhân hiệp hội bảo hiểm bảo hiểm bán bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm công ty bảo hiểm

10 nghề nguy hiểm nhưng lương ‘bèo bọt’

(NDHMoney) Có những công việc rất nguy hiểm nhưng số tiền mà người lao động nhận được lại ‘chẳng đáng bao nhiêu’.

Trang Bloomberg mới đây đã xếp hạng những nghề nguy hiểm nhưng lương thấp tại Mỹ. Điểm trung bình được tính bằng cách lấy tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người chia cho mức lương trung bình hàng năm của người lao động, sau đó chia cho 100. Điểm số càng thấp chứng tỏ thu nhập mà công nhân nhận được càng ‘bèo bọt’ so với nguy cơ rủi ro mà họ phải đối mặt.

Dưới đây là top 10 trong bảng xếp hạng của Bloomberg:

10. Công nhân cấu trúc sắt thép

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 26,9

Mức lương trung bình hàng năm: 46.140 USD

Điểm trung bình: 17,2

9. Công nhân lái xe/bán hàng và lái xe tải

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 24

Mức lương trung bình hàng năm: 34.550 USD

Điểm trung bình: 14,4

8. Công nhân làm vườn

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 16,8

Mức lương trung bình hàng năm: 23.970 USD

Điểm trung bình: 14,3

7. Lái xe taxi và tài xế riêng

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 19,7

Mức lương trung bình hàng năm: 22.820 USD

Điểm trung bình: 11,6

6. Công nhân sửa chữa mái nhà

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 31,8

Mức lương trung bình hàng năm: 35.290 USD

Điểm trung bình: 11,1

5. Công nhân làm các việc vặt trong lĩnh vực nông nghiệp

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 17,4

Mức lương trung bình hàng năm: 18.900 USD

Điểm trung bình: 10,9

4. Công nhân thu gom rác thải và vật liệu tái chế

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 41,2

Mức lương trung bình hàng năm: 32.930 USD

Điểm trung bình: 8,0

3. Công nhân khai thác ( bao gồm khai thác đá)

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 71,6

Mức lương trung bình hàng năm: 38.810 USD

Điểm trung bình: 5,4

2. Công nhân khai thác gỗ

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 102,4

Mức lương trung bình hàng năm: 33.630 USD

Điểm trung bình: 3,3

1. Ngư dân và công nhân liên quan tới nghề cá

Tỷ lệ tử vong hàng năm trên 100.000 người: 121,2

Mức lương trung bình hàng năm: 33.430 USD

Điểm trung bình: 2,8

Từ khoá: người lao động công nhân khai thác tử vong

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông: Khó bảo đảm tiến độ

(HNM) – Dự án đường sắt đô thị (ĐSĐT) Cát Linh – Hà Đông theo kế hoạch cuối năm 2014 sẽ hoàn thành vào và đưa vào khai thác trong quý II năm 2015. Tuy nhiên, đến cuối tháng 5-2013, dự án mới hoàn thành gần 40% khối lượng công việc.

Dự án đường sắt đô thị
Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, đoạn qua hồ Đống Đa Ảnh: Bảo Lâm

Tuyến ĐSĐT Cát Linh do Cục Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2014, chạy thử toàn tuyến vào đầu năm 2015 và đưa vào khai thác trong quý II năm 2015. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 8.769 tỷ đồng, có điểm đầu là ga Cát Linh (ngã 5 Giảng Võ-Cát Linh-Giang Văn Minh), điểm cuối là ga Bến xe Hà Đông mới, dài 13,1km, bao gồm 12 nhà ga và một khu Depot. Theo thiết kế, đây là tuyến đường sắt nhẹ đi trên cao (cầu cạn), thiết kế đường đôi, khổ 1.435m, tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng theo quy phạm thiết kế metro GB 5017-2003 của Trung Quốc, chịu được động đất cấp 8. Đoàn tàu gồm 6 toa hoặc 8 toa (khi lưu lượng giao thông tăng lên), có sức chở từ 2.028 hành khách đến 2.110 hành khách, tốc độ tối đa là 80km/h. Thời gian khai thác hằng ngày của tuyến ĐSĐT này bắt đầu từ 5h đến 23h với tần suất vận chuyển tối đa là 2 phút/chuyến. Sau khi hoàn thành, dự án đóng vai trò nòng cốt cho giao thông công cộng, cùng với mạng lưới xe buýt nhanh sẽ giải quyết cơ bản vấn đề tắc nghẽn giao thông và phấn đấu đạt mục tiêu giao thông công cộng đáp ứng được 35-45% nhu cầu đi lại của nhân dân Thủ đô.

Do tính chất quan trọng của dự án nên kể từ ngày khởi công đến nay, UBND TP Hà Nội và Bộ GTVT cũng như Ban QLDA ĐSĐT, các nhà thầu đã có nhiều nỗ lực trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB), thi công công trình. Tuy nhiên, đến thời điểm này, dự án đang bị chậm tiến độ.

Giám đốc Ban QLDA ĐSĐT Trần Văn Lục cho biết, theo kế hoạch, năm 2013 phải cơ bản hoàn thành công tác GPMB; 80% khối lượng thi công trụ cầu trung gian (360/425 trụ); 65% khối lượng đúc dầm (540/806 phiến dầm); triển khai thi công toàn bộ 12 nhà ga, trong đó hoàn thành 50% kết cấu chính của các nhà ga… Nhưng đến nay, tổng khối lượng công việc thực hiện mới đạt 39%. Nguyên nhân chủ yếu vẫn nằm ở khâu GPMB bị ách tắc. “Tắc” nhất là mặt bằng đoạn qua địa bàn các quận Đống Đa, Thanh Xuân và phần mở rộng Nghĩa trang Trinh Lương để di dời Nghĩa trang Văn Nội của quận Hà Đông… Trong thời gian tới, nếu việc GPMB tiếp tục chậm trễ, khả năng dự án không thể hoàn thành theo tiến độ là rất lớn.

Cùng với vướng mắc trong GPMB, công trình đang trong hoàn cảnh vừa thi công vừa bảo đảm giao thông trên tuyến quốc lộ 6 nên cũng bị ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ. Thời gian tới, Cục Đường sắt Việt Nam đề nghị UBND TP Hà Nội chỉ đạo các quận, huyện liên quan tập trung quyết liệt hơn cho công tác GPMB. Sở GTVT Hà Nội cấp phép thi công và có phương án phân luồng giao thông hợp lý trên trục Nguyễn Trãi – Trần Phú – Quang Trung – quốc lộ 6 để nhà thầu có thể mở đồng thời nhiều mũi thi công trên tuyến. Chủ đầu tư đề nghị UBND TP Hà Nội thành lập ngay Công ty Quản lý khai thác tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông hoặc giao cho một đơn vị có đủ năng lực tiếp nhận tiểu dự án đào tạo nhân lực được tách ra từ dự án chính; tổ chức tuyển dụng nhân lực theo tiêu chuẩn để gửi đi đào tạo theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đại diện Ban QLDA cũng cho biết, trong kế hoạch tổng thể thực hiện dự án, các mốc tiến độ GPMB đã được xác định cụ thể. Trong đó, di dời hạ tầng kỹ thuật đoạn Ba La – Bến xe Yên Nghĩa sẽ được Sở Xây dựng Hà Nội hoàn tất vào ngày 30-6-2013. Khu vực ga Cát Linh được UBND quận Đống Đa hoàn thành GPMB vào ngày 30-9-2013. Đường dẫn vào khu Depot (6,8ha) được UBND quận Hà Đông hoàn thành GPMB vào ngày 30-6-2013. Riêng Nghĩa trang Văn Nội, UBND quận Hà Đông hoàn thành GPMB vào ngày 31-12-2013. Cục Đường sắt Việt Nam và Ban QLDA đang đôn đốc tổng thầu đẩy nhanh tiến độ và triển khai các công việc để không làm ảnh hưởng đến tiến độ chung. Song để dự án không bị chậm trễ, phía các cơ quan của Hà Nội phải bảo đảm được các mốc tiến độ GPMB này.

Về phía các địa phương, đại diện quận Thanh Xuân, Đống Đa đều khẳng định đây là dự án trọng điểm của quốc gia nên sẽ nỗ lực hết sức trong việc GPMB để kịp bàn giao đất theo mốc nói trên. Ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Chủ tịch UBND quận Hà Đông, cho biết: “Công tác GPMB đang được quận triển khai khẩn trương. Khó khăn nhất chính là việc di dời các ngôi mộ ở Nghĩa trang Văn Nội, bởi theo tập quán của người Việt, việc di chuyển chỉ thực hiện vào khoảng 2-3 tháng trước hoặc sau Tết. Khó khăn nữa là việc thu hồi đất ở, do có chính sách mới nên phải thẩm định giá đầu đi, đầu đến sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường”. Quận kiến nghị sở, ngành liên quan đẩy nhanh thủ tục trình UBND thành phố phê duyệt giá đất. Đối với các hộ bị thu hồi đất ở tại dự án này nhưng tiếp tục bị thu hồi tại dự án mở rộng quốc lộ 6 (chưa triển khai), quận đề nghị được thu hồi một lần. Đồng thời, thành phố xem xét giải quyết vướng mắc về chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề khi thu hồi đất nông nghiệp, cụ thể là hạn mức, đối tượng của hộ gia đình, cá nhân khi đã có ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường…

Từ khoá: gia kế hoạch việt nam đường sắt giao thông bão hà đông triển khai công trình khai thác

Ngành Than tính chuyện tăng giá

(VnMedia) -Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Biên – Phó TGĐ Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho biết, nhiều chủng loại than phải dừng xuất khẩu khi thuế suất thuế xuất khẩu than tăng lên 13% từ hôm nay (7/7/2013).-PV: Xin ông cho biết những áp lực của ngành than khi thuế suất thuế xuất khẩu than chính thức tăng từ 7/7/2013 ?-Ông Nguyễn Văn Biên: Với mức thuế 10% thì nhiều chủng loại than của Việt Nam khi xuất khẩu không có lãi, chỉ đủ bù đắp chi phí sản xuất. Ông Nguyễn Văn BiênTừ 7/7, khi thuế xuất khẩu than tăng lên 13% thì nhiều chủng loại than phải dừng xuất khẩu hoặc chỉ xuất khẩu cho những khách hàng bán lẻ, với số lượng ít. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến tổng sản lượng tiêu thụ than cả năm, dự kiến chỉ xuất khẩu hơn 10 triệu tấn, giảm 4 triệu tấn so với năm 2012; làm gia tăng thêm khó khăn trong việc cân đối tài chính của ngành; có nguy cơ mất nhiều thị trường bán than xuất khẩu.Ngoài ra, khi sản lượng giảm thì các loại thuế tài nguyên, phí môi trường, thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế xuất khẩu đóng cho nhà nước cũng giảm mạnh.- Việc tăng thuế xuất khẩu than có phải là nguyên nhân khiến cho ngành Than tiếp tục đề nghị tăng giá bán cho ngành Điện, thưa ông?Sau khi được điều chỉnh giá bán than cho điện từ ngày 20/4/2013 thì giá bán than cho điện hiện nay cũng chỉ bằng 85-87% giá thành kế hoạch năm 2013 (tùy từng chủng loại). Như vậy, theo kế hoạch năm 2013 mà các bộ đã rà soát và cân đối tài chính của Vinacomin năm 2013 với điều kiện giá than cho điện được điều chỉnh từ ngày 01/01/2013, thuế xuất khẩu than là 10%, thì việc điều chỉnh này chậm 3 tháng 20 ngày.Không những vậy, Vinacomin đã phải bù giá than cho ngành Điện trên 1.800 tỷ đồng do sản lượng than tiêu thụ cho điện những tháng đầu năm tăng cao.Trong khi đó, việc khai thác than ngày càng khó khăn hơn. Các mỏ hầm lò ngày càng xuống sâu, có nơi độ sâu dưới -300 m so với mặt nước biển, áp lực mỏ lớn, nguy cơ về bục nước, cháy nổ, sập lò cao hơn; các mỏ lộ thiên hệ số bóc đất cao (phải nổ mìn bóc trên 11 m3 mới lấy được 1 tấn than, cung độ vận chuyển đất đá trên 4 km); các chi phí về thăm dò, thoát nước, thông gió, an toàn bảo hộ lao động… cũng tăng theo.Vinacomin đã có nhiều biện pháp tăng năng suất, giảm giá thành, thậm chí từ năm 2012, 2013 đã phải giảm tiền lương, cắt giảm biên chế nhiều bộ phận (trừ thợ lò vì còn thiếu), chọn nơi thuận lợi hơn để khai thác trước nhằm giảm giá thành, tiêu thụ được than. Nhưng, những biện pháp này chỉ mang tính tạm thời, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững theo Quy hoạch của ngành Than, nguy cơ thiếu lao động cho sản xuất, cơ sở hạ tầng, môi trường,…bị ảnh hưởng.Bên cạnh đó, các loại thuế, phí liên tục điều chỉnh tăng làm cho tổng chi phí trong giá thành tăng. Riêng thuế tài nguyên đối với than tăng từ 230 tỷ đồng năm 2007 lên 3.120 tỷ đồng năm 2012 (gấp 13,5 lần do tăng thuế suất từ 1-2% lên 5-7% và tăng giá tính thuế); Từ năm 2012 bổ sung thuế môi trường 20.000 đ/tấn, phí môi trường địa phương thu tăng từ 6.000 lên 10.000 đồng/tấn.Về hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với than xuất khẩu: Từ năm 2008 trở về trước (10 năm liền) than xuất khẩu được hoàn thuế GTGT; từ năm 2009 không được hoàn thuế GTGT đầu vào, lăm tăng chi phí khoảng 150 ngàn đồng/tấn than xuất khẩu; thuế xuất khẩu than 10% hiện nay thuộc nhóm nước có thuế suất cao nhất thế giới.Vì vậy, việc điều chỉnh giá than cho điện là theo lộ trình đã được các bộ, ngành và Chính phủ xem xét, xác định từ nhiều năm nay nhằm để đảm bảo ngành Than bù đắp chi phí, tiến tới có lãi để đầu tư phát triển.Việc tăng thuế xuất khẩu nhiều chủng loại than sẽ làm tăng giá bán tương ứng để sau khi trừ thuế ngành Than không bị lỗ. Do đó, sản lượng than tiêu thụ sẽ bị giảm mạnh. Điều này sẽ dẫn tới các khó khăn như nêu ở trên, chứ không phải là nguyên nhân đề nghị tăng giá than cho điện.-Ông có lo ngại những hiệu ứng từ trong dư luận khi nhiều doanh nghiệp lớn cùng tăng giá bán sản phẩm đầu ra trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn?Việc điều chỉnh giá bán điện còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động theo từng thời điểm, không chỉ riêng giá bán than cho điện. Do đó, cũng không nhất thiết phải gắn điều chỉnh ngay giá điện, giá than cùng với nhau.Hơn nữa, thời điểm điều chỉnh giá than, giá điện, các Bộ còn xem xét và đảm bảo cân đối chung thích hợp cho từng ngành nhằm không gây tác động xấu đến thị trường cũng như nền kinh tế. Xin cảm ơn ông! Theo Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 9/1/2012, thì nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển các mỏ than rất lớn. Riêng nhu cầu vốn đầu tư cho than hiện nay là 22.000 – 25.000 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, điều kiện khai thác than của Việt Nam hiện nay thuộc loại khó khăn, các loại thuế phí thì cao, giá bán than cho ngành điện trong những năm qua vẫn còn thấp hơn giá thành./. Phong Anh

Từ khoá: xuất khẩu chi phí việt nam gia nguy cơ bão thuế giá trị gia tăng khó khăn khai thác giá trị gia tăng môi trường vinacomin gia tăng tiêu thụ phát triển nền kinh tế

Phát hiện bãi vàng hoạt động trái phép trên núi Chư Quynh

(TNO) Từ phản ánh của người dân, chúng tôi đã tìm hiểu và phát hiện một bãi vàng hoạt động trái phép vừa xuất hiện trên núi Chư Quynh, gần thôn Thanh Bình, xã Ea Kênh, H.Krông Pắk, Đắk Lắk.

>> Phạt 5 người khai thác vàng trái phép 350 triệu đồng

>> Chấn chỉnh khai thác vàng trái phép tại núi Cấm

Bãi vàng trái phép trên núi Chư Quynh 1

Lán trại tại điểm đào vàng trên núi Chư Quynh – Ảnh: Bình Nguyên

Hoạt động của bãi vàng này ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, môi trường xung quanh. Một số trâu, bò trong vùng bị bệnh chết nghi do uống phải nước suối có hóa chất dùng đãi vàng trôi từ núi xuống. Nhiều hộ dân lo ngại nước giếng sinh hoạt cũng sẽ bị nhiễm độc.

Tiếp cận bãi vàng, có thể thấy khá nhiều máy móc, thiết bị phục vụ khai thác vàng và sườn núi bị đào phá nham nhở, nhiều địa đạo đào xuyên vào lòng núi để tìm vàng… Một phu vàng cho biết có khoảng 10 nhân công làm việc ở đây dưới sự điều hành của một đầu nậu tên Hoàng.

Bãi vàng trái phép trên núi Chư Quynh 2

Cửa địa đạo tìm vàng – Ảnh: Bình Nguyên

Ông Võ Minh Thành, Phó trưởng Công an xã Ea Kênh, cho biết chủ bãi vàng này trước đây tổ chức đào đãi vàng trên núi Pháo cách đó không xa và đã bị lực lượng chức năng truy quét, giải tỏa. Hiện công an xã đang đề xuất với chính quyền địa phương có phương án tiếp tục giải tỏa điểm khai thác trái phép vàng ở núi Chư Quynh.

Bãi vàng trái phép trên núi Chư Quynh 3

Máy móc dùng đào đãi vàng – Ảnh: Bình Nguyên

Theo ông Trần Văn Sĩ, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường Đắk Lắk, vừa qua rộ lên nạn khai thác vàng trái phép ở một số điểm trên địa bàn tỉnh như M’Đrắk, Lắk, Krông Pắk… Sở đã phối hợp với các địa phương tham gia kiểm tra, giải tỏa nhưng khó xử lý dứt điểm vì các bãi vàng tổ chức cảnh giới cẩn mật, chủ bãi lẩn tránh, ngừng hoạt động khi lực lượng chức năng xuất hiện.

“Việc đào đãi trái phép ở những địa điểm trên chủ yếu theo lời đồn đại có vàng, nhưng thực chất lượng vàng sa khoáng ở Đắk Lắk phân tán rất thưa thớt, không tập trung quy mô đủ để khai thác. Trên bản đồ địa chất khoáng sản của tỉnh cũng không có vàng”, ông Sĩ nhận định.

T.N.Quyền

>> Xử phạt hai cá nhân khai thác vàng trái phép

>> Ngăn chặn hoạt động khai thác vàng trái phép

>> Rút 16 giấy phép khai thác vàng, than đá ở Quảng Nam

>> Giao đất thực địa sau khi DN đã khai thác vàng nhiều năm

>> Khai thác vàng lộng hành

>> “Đại công trường” khai thác vàng trái phép

>> Truy quét 24 điểm khai thác vàng trái phép

>> Xóa bãi khai thác vàng trái phép

Từ khoá: khai thác trái phép

Khẳng định hiệu quả từ chương trình bình ổn thị trường

Bình ổn thị trường tăng kiềm chế lạm phát

Theo Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), trong nhiều năm qua, đặc biệt là năm 2012, chương trình bình ổn thị trường đã góp phần đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu tại nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Bên cạnh đó, bình ổn thị trường còn là một trong những công cụ để các địa phương chủ động trong điều tiết cung cầu, góp phần giảm áp lực tăng giá trong các dịp cao điểm, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, phát triển mạng lưới phân phối hàng hóa, đặc biệt là mạng lưới bán hàng bình ổn tại các khu vực tập trung người lao động.

Chương trình bình ổn thị trường tập trung cung cấp hàng hóa thiết yếu của người dân. (Ảnh: cpv.org.vn)

Khẳng định tính tích cực, hiệu quả của chương trình bình ổn thị trường trong năm 2012, theo đánh giá của ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), với sự tham gia của 45/63 địa phương cùng sự đồng hành của trên 300 doanh nghiệp, chương trình đã tập trung cung cấp những hàng hóa thiết yếu của người dân như lương thực, đường, dầu ăn, thực phẩm tươi sống, trừng gia cầm, sách giáo khoa và dụng cụ học tập, thuốc chữa bệnh và một số hàng hóa tư liệu sản xuất như phân bón, giống cây trồng…

“Trên thực tế, các doanh nghiệp đã đăng ký giá và cam kết bán hàng bình ổn giá với giá thấp hơn giá thị trường từ 5 – 10% góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát. Năm 2012, CPI của TP HCM là 4,07%, CPI của Hà Nội là 6,29% thấp hơn khá nhiều mức tăng CPI 6,81% của cả nước”, ông Quyền cho biết.

Điểm nổi bật trong sự thành công của chương trình bình ổn thị trường là ở chỗ, các doanh nghiệp từ việc tổ chức bán hàng tại các siêu thị, trung tâm thương mại nay đã thực hiện ngày càng nhiều chuyến bán hàng lưu động, đưa hàng về nông thôn, các huyện ngoại thành, miền núi, vùng xâu vùng xa, đồng thời thiết lập nhiều điểm bán hàng cố định tại các khu công nghiệp, các chợ truyền thống khu vực nông thôn.

Theo bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Phó cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), từ chỗ 100% doanh nghiệp nhận vốn vay hỗ trợ trong những năm đầu triển khai chương trình, đến năm 2012, trong tổng số hơn 300 doanh nghiệp tham gia chương trình nhưng đã có khoảng 60 doanh nghiệp chủ động nguồn vốn và nguồn lực, không nhận hỗ trợ về vốn của nhà nước.

“Chương trình bình ổn thị trường đã từng bước tạo được chuỗi liên kết sản xuất và phân phối với người tiêu dùng, tạo được liên kết giữa các doanh nghiệp trong chương trình với nhau, giữa các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh lân cận. Có nhiều địa phương đã và đang xây dựng, triển khai mô hình liên kết tiêu thụ nông sản giữa các địa phương”, bà Nga nhận xét.

Chưa chủ động trong liên kết doanh nghiệp

Theo ông Nguyễn Văn Đồng, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hà Nội, mặc dù việc triển khai đồng bộ các chương trình nhằm bình ổn giá thị trường đã phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số những khó khăn chưa thể giải quyết.

“Nhiều điểm bán hàng bình ổn giá phân bố không đồng đều, còn tập trung nhiều ở các trung tâm thương mại, siêu thị, trong khi tại các địa bàn vùng nông thôn, khu vực ngoại thành, các khu công nghiệp… hệ thống bán hàng bình ổn giá còn phân bố tương đối mỏng”, ông Đồng nói.

Ngoài ra, theo ông Đồng, trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, một số doanh nghiệp chưa nghiêm chỉnh thực hiện quy định về giá bán đối với nhóm hàng bình ổn giá, còn có trường hợp bán cáo hơn so với giá bán được thẩm định.

Đồng tình với quan điểm của Sở Công Thương TP Hà Nội, bà Lê Ngọc Đào – Phó Giám đốc Sở Công Thương TP HCM chia sẻ, mạng lưới bán hàng bình ổn đã phát triển nhanh rộng khắp địa bàn thành phố. Tuy nhiên, khi vào các chợ truyền thống vẫn còn gặp khó khăn do tâm lý của một số tiểu thương ngại bán hàng bình ổn thị trường vì lợi nhuận và chiết khấu thấp.

“Các doanh nghiệp tham gia chương trình chưa có sự liên kết chặt chẽ để phát hu, khai thác thế mạnh và tiềm năng của từng doanh nghiệp nhằm hỗ trợ nhau trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm cũng như lưu thông phân phối theo chuỗi giá trị”, bà Đào cho hay.

Xã hội hóa chương trình tạo tính lan tỏa

Để phát huy những thành công đồng thời tăng cường tính hiệu quả của chương trình bình ổn trong năm 2013 và những năm tiếp theo, đại diện Bộ Công Thương, Bộ Tài chính cùng Sở Công Thương các tỉnh thành, các công ty đều bày tỏ quan điểm thống nhất trong việc xã hội hóa chương trình này, tạo được sự đồng thuận và nhất trí cao giữa các doanh nghiệp, các địa phương với mục tiêu cao cả là vì quyền lợi người tiêu dùng, tạo sự lan tỏa, góp phần thực hiện thành công cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.

Đại diện Sở Công Thương TP Hà Nội cho biết, trong năm 2013, thành phố sẽ hướng chương trình vào 4 mũi nhọn. Trong đó thiết thực là mở rộng việc đưa hàng về khu công nghiệp, khu chế xuất, các bếp ăn tập thể dành cho công nhân, bếp ăn trường học dành cho học sinh, sinh viên, các cháu mầm non, đối tượng có thu nhập thấp…bằng việc đẩy mạnh khai thác, thu mua hàng hóa trong và ngoài thành phố, liên kết với các tỉnh bạn trong việc khai thác hàng hóa.

Bà Lê Ngọc Đào, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP HCM thì cho rằng, năm 2013, thành phố tiếp tục triển khai chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng dụng cụ học tập phục vụ mùa khai trường, chương trình sữa và dược phẩm thiết yếu… Qua đó, thành phố sẽ chủ động thực hiện việc kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất phù hợp.

“Các doanh nghiệp còn được hỗ trợ tham gia chương trình kích cầu đầu tư mở rộng chuồng trại, chăn nuôi, đầu tư con giống, đối mới công nghệ… Các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường sẽ được hỗ trợ quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu trên các phương tiện truyền thông đại chúng, được hỗ trợ kết nói đưa hàng hóa vào hệ thống phân phối”, bà Đào cho biết./.

Từ khoá: người lao động gia thành công người tiêu dùng hiệu quả bộ tài chính mở rộng hàng hóa liên kết doanh nghiệp triển khai thị trường nông thôn giám đốc khai thác thu nhập thấp

Tàu cá Việt ‘liên thủ’ giữ chủ quyền

> Quấn cờ Tổ quốc vào ngực, bám biển, giữ chủ quyền

> TQ ngang ngược “cấm biển”: Ngư dân Việt không chùn bước

TP – Trước những hành động quấy rối của tàu cá Trung Quốc, ngư dân Bình Định hợp nhất thành những tổ đoàn kết khai thác và dần hướng tới mô hình lớn hơn là những tập đoàn, để vừa khai thác, vừa chống xâm lấn, bảo vệ chủ quyền.

Ngư dân miền Trung đoàn kết bám biển. ảnh: H.D
Ngư dân miền Trung đoàn kết bám biển. ảnh: H.D.

Bình Định có hơn 7.300 tàu đánh cá, trong đó hơn 2.500 tàu đánh bắt vùng biển Trường Sa, với 100 tổ tàu cá xa khơi.

Mình hiên ngang, họ sẽ phải sợ mà lui

Đang vào mùa khai thác cá bò gù, ngừ sọc, mực xà trên vùng biển Hoàng Sa – Trường Sa, nên hầu hết ngư dân miền Trung đều bức xúc trước những hành động quấy nhiễu, xua đuổi của phía Trung Quốc.

Từ 14 tàu cá công suất lớn trên 350CV vốn trước đây hoạt động riêng lẻ, nay số tàu trên của “đại gia đình” ông Bùi Thanh Ninh (55 tuổi, ở Hoài Nhơn, Bình Định) đã đổi hướng, hợp nhất thành một “tập đoàn”.

“Gần đây, tàu cá Trung Quốc liên tục cản trở, gây khó cho việc khai thác, nên tôi quyết định chuyển hướng. Đoàn tàu của gia đình tôi không còn đi theo từng tốp nhỏ như trước, mà hợp nhất lại thành tập đoàn để cùng lúc ra khơi, vừa bảo vệ nhau khai thác, và góp phần đẩy đuổi tàu cá Trung Quốc”, ông Ninh khẳng định.

Theo lão ngư này, tàu lạ chỉ nhắm vào những tàu cá riêng lẻ để hù dọa. Còn khi chúng ta hợp nhất thành từng đội tàu hùng mạnh, thì họ không dám làm gì.

Chiếc tàu 900 sức ngựa của tôi và nhiều chiếc khác trong đội không ít lần khiến tàu cá Trung Quốc phải cuốn gói khỏi vùng biển chủ quyền của ta.

Lão ngư Nguyễn Văn Ái

Lão ngư Nguyễn Văn Ái (64 tuổi, ở thôn Xuân Bình, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, Bình Định) với thâm niên gần 50 năm bám biển, luôn tâm niệm “trên bờ đoàn kết 1 thì ra khơi phải đoàn kết 10 mới thành công”.

Tập đoàn tàu cá gồm 12 chiếc công suất từ 650 đến 950 CV của “đại gia đình” ông Ái luôn cùng lúc đạp sóng ra Trường Sa, Hoàng Sa. “Mình hiên ngang, họ sẽ phải sợ mà rút lui”, ông Ái đúc kết ngắn gọn.

Ngư dân Lý Văn Tài (32 tuổi) trên tàu BĐ 96948 vừa cập bến Tam Quan, kể: “Chúng tôi bị một số tàu cá Trung Quốc liên tục chặn, xua đuổi trong quá trình đánh bắt. Anh em chúng tôi lập tức liên lạc qua bộ đàm và hợp nhất thành tổ đội ngay tại vùng biển Trường Sa. Khi thấy chúng tôi tập hợp lại thành đoàn, tàu cá Trung Quốc đã phải rút lui”.

Kiên trì bám biển

Ngư dân Nguyễn Văn Thường (36 tuổi, ở Hoài Nhơn, Bình Định) trên tàu BĐ 96817 cho biết, từ đầu năm tới giờ, thuyền đã ra khơi thành công 4 chuyến. Gặp tàu cá Trung Quốc, chúng tôi mặc kệ họ khiêu khích. Đến khi họ cố tình nhắm vào mình thì anh em liên kết lại đuổi chúng đi”.

Ngư dân Nguyễn Thanh Hưng (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi), chia sẻ: “Vùng biển Hoàng Sa chúng tôi thường khai thác và liên tục đụng độ với tàu cá Trung Quốc. Hình như họ cho tàu cá xuống biển không phải để đánh bắt mà là cố tình quấy nhiễu tàu cá Việt Nam. Cùng là ngư dân bám biển, chúng tôi thấy kiểu ấy là quá hèn nhát”.

Theo bà Mai Kim Thi – Chi cục trưởng Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định: “Việc thành lập các tổ đội khai thác thủy sản đã thực hiện từ mấy năm nay. Tuy nhiên, gần đây anh em ngư dân từ nhiều tổ đội đã hợp sức cùng nhau trên biển để đẩy đuổi tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển chủ quyền là một việc làm dũng cảm, rất đáng biểu dương”.

Ông Lê Văn Trung (40 tuổi, ở Hoài Hải, Hoài Nhơn, Bình Định), chủ tàu cá BĐ 95993TS vừa trở về từ Hoàng Sa, cho hay, trong hai chuyến ra khơi gần đây, đội tàu của ông 2 lần đụng độ với tàu Trung Quốc. Tàu cá Trung Quốc bằng sắt rất lớn, đi lại ngang nhiên. Khi cả 6 chiếc tàu cá thuộc đội tàu của ông Trung hợp lại nhằm phía tàu cá Trung Quốc mà tiến thì họ bỏ chạy mất hút. Bởi vậy, ngư dân không sợ tàu của họ, chỉ sợ không có cá để đánh bắt.

Thời điểm này, cảng Quy Nhơn tập trung rất nhiều thuyền câu cá ngừ đại dương của ngư dân. Sau tuần trăng tháng 4, ngư dân lại chất đá, lương thực chuẩn bị chuyến biển tiếp theo. Cảng cá Quy Nhơn vẫn nhộn nhịp đón những chuyến tàu vào ra.

Việt Hương – Thu Dịu

Từ khoá: bão khai thác tập đoàn gia đình gia trung quốc ngư dân

Điện năng từ gió và thủy triều

Đã có nhiều loại hệ thống khai thác nguồn năng lượng tái tạo, trong đó bao gồm khai thác sức gió và các dòng hải lưu. Nay, Công ty kỹ thuật MODEC (Nhật Bản) cho biết sẽ thử nghiệm hệ thống SKWID kết hợp thu năng lượng cả gió và dòng hải lưu trên biển.

SKWID là một phức hợp bồng bềnh trên mặt nước biển. Chìm bên dưới là turbin khai thác thủy triều Savonius còn phần nổi trên không trung là turbin gió Darrieus. Cả hai được kết hợp với hộp trung tâm và máy phát điện, nhờ vậy SKWID có thể khai thác năng lượng của gió hoặc của các dòng chảy hoặc cả hai cùng lúc. Ngoài ra vòng quay từ động cơ turbin thủy triều có thể giúp để hỗ trợ cho turbin gió khi gió quá nhẹ.

Turbin gió Darrieus được thiết kế để xoay trái hoặc xoay phải nên hoạt động mà không phụ thuộc vào hướng gió. Trong khi đó turbin thủy triều Savonius chỉ quay theo một hướng nhưng có thể hoạt động dù dòng nước nhỏ nhất trong lòng đại dương.

Theo tạp chí Gizmag, đã có một số hệ thống SKWID đã được cài đặt, thử nghiệm ngoài khơi Nhật Bản với turbin gió cao 47 m trên mặt nước biển và turbin thủy triều có đường kính 15 m trong lòng biển, cả hai phối hợp đủ cung cấp năng lượng cho 300 hộ gia đình.

Song Mai

>> Nghiên cứu năng lượng tái tạo

>> Tiềm năng khai thác năng lượng tái tạo

>> Xây dựng chiến lược phát triển nguồn năng lượng tái tạo

>> Thách thức an ninh năng lượng – Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo

Từ khoá: năng lượng chiến lược phát triển khai thác