Tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

(HNM) – Sau hơn 3 năm triển khai, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, trong đó đáng chú ý là tâm lý người tiêu dùng (NTD) đã hướng về hàng Việt. Hàng Việt giờ đã có thêm lợi thế là nếu chất lượng và giá tương đương hàng ngoại, NTD sẽ mua hàng Việt.

Nếu trước đây hàng Việt bị áp đảo thì nay khi đi mua hàng ở tất cả các kênh phân phối, từ siêu thị hiện đại đến chợ truyền thống, NTD đã đắn đo trong việc chọn mua hàng Việt hay hàng ngoại. Xét trên yếu tố cạnh tranh, hàng hóa muốn cạnh tranh được phải bảo đảm ít nhất hai nguyên tắc là chất lượng và giá cả. Tuy nhiên, môi trường cạnh tranh hiện nay được DN ví như cuộc so găng giữa những đối thủ không cân sức, khi một bên là đối thủ ốm yếu, vừa thiếu dinh dưỡng, chưa “đánh” đã biết “thua” dù ngay tại “sân nhà”. NTD có đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, mẫu mã, giá sản phẩm, trong khi doanh nghiệp (DN) lại đang phải giảm thiểu chi phí để có thể cạnh tranh về giá nhưng các yếu tố đầu vào vẫn không ngừng tăng, còn “đầu ra” thì rất khó khăn. Tình hình sản xuất, kinh doanh của không ít DN trong quý I năm 2013 xấu hơn năm 2012, thậm chí được đánh giá xấu nhất trong nhiều năm qua.

Từ đầu năm đến ngày 15-3, có 15.200 DN giải thể, ngừng hoạt động, tăng 2.200 DN so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2013 chỉ tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012. Đặc biệt, tỷ lệ tồn kho nói chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn đang ở mức cao làm ảnh hưởng đến mối quan hệ an toàn giữa các khâu sản xuất-tiêu thụ và tồn kho của sản xuất công nghiệp. Điều này đã thể hiện sự khó khăn của DN hiện nay. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ giữa giá trị tồn kho so với giá trị sản xuất trong một tháng hiện luôn ở mức cao (70-90%), trong khi tỷ lệ an toàn thông thường khoảng 65%. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm qua các tháng trong năm qua chủ yếu do các DN tự tháo gỡ khó khăn bằng cách tiêu thụ sản phẩm với giá rẻ, lãi ít hoặc bán lỗ để giải phóng hàng tồn, thu hồi vốn để tái cơ cấu ngành hàng sản xuất có lợi hơn hoặc đầu tư sang lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ, không rõ nguồn gốc đang là thách thức buộc DN phải tính toán để tìm hướng đi thích hợp. Những khó khăn đó khiến niềm tin của DN đang mất dần. Đây là điểm các cấp có thẩm quyền cần lưu ý.

Ngoài vai trò là nhà đầu tư, sản xuất kinh doanh giúp cho kinh tế đất nước phát triển, giải quyết việc làm, góp phần ổn định an sinh xã hội, DN còn là một nguồn lực rất lớn để đóng góp cho những định hướng về phát triển kinh tế. Vì vậy, các DN, nhà đầu tư với kiến thức sâu rộng về thị trường, về kinh tế cần được xem là những đối tác gắn bó bền vững, là bạn đồng hành tin cậy, cùng đồng hành với chính quyền, đưa kinh tế đất nước phát triển. Bên cạnh đó, các cấp có thẩm quyền cần tiếp tục quan tâm nhiều hơn tới công tác cải cách thủ tục hành chính; đẩy nhanh quá trình điều chỉnh, cải tiến mối quan hệ hợp tác giữa chính quyền và DN để tạo ra một môi trường đầu tư, kinh doanh tốt hơn nữa, nhằm tạo sức cạnh tranh cho DN “nội”.

Về phía DN, cần chủ động xây dựng thương hiệu uy tín, quảng bá hình ảnh DN qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ mới, quản lý được chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, chú trọng cải tiến mẫu mã, bao bì phù hợp với tâm lý, thị hiếu NTD.

Từ khoá: chất lượng sản phẩm kênh phân phối người tiêu dùng gia cạnh tranh kinh tế nâng cao chất lượng chất lượng thủ tục hành chính kinh doanh khó khăn phát triển sản phẩm

Mũ bảo hiểm xịn lên ngôi

khách hàng thời trang công ty kênh phân phối sản phẩm hệ thống đại lý mở rộng thị trường tiêu dùng người tiêu dùng chất lượng thị trường gia bão

KTĐT – Sau hơn 10 ngày kể từ khi lực lượng Quản lý thị trường tiến hành kiểm tra đồng loạt các cơ sở mua, bán mũ bảo hiểm (MBH) tại 4 quận nội thành Hà Nội, thị trường bước đầu ghi nhận những chuyển biến trong nhận thức của người tiêu dùng về việc chọn mua các loại MBH chính hãng, có tem đảm bảo chất lượng.

Tăng công suất, không tăng giá bán

Theo đại diện nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất MBH, 3 năm trước không ít DN đã đầu tư công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm chất lượng nhưng sau đó, MBH kém chất lượng, mũ thời trang đáp ứng thị hiếu một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng được bày bán tràn lan, gây khó khăn không nhỏ cho sản xuất của nhiều DN.

Thông tin người đội MBH rởm, kém chất lượng sẽ bị phạt (từ ngày 15/4) và cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất, mua bán MBH là bước đột phá mới trong công tác kiểm soát thị trường MBH và là giải pháp hữu hiệu để lập lại trật tự thị trường, tạo cơ hội cho các DN có thương hiệu trong lĩnh vực này phát triển.

bhiem11032013-g.jpg

Khách hàng lựa chọn mũ bảo hiểm trên đường Chùa Bộc.Ảnh:Yên Chi

Ông Lê Tuấn Anh, Giám đốc marketing Công ty Andes cho biết, từ năm 2009 đến nay, nhu cầu sản xuất của công ty đã giảm 2/3 so với trước, số lượng công nhân cũng giảm một nửa. Công ty hoạt động cầm chừng, số lượng MBH sản xuất và bán ra chủ yếu do kênh phân phối quà tặng, các hệ thống đại lý số lượng bán ra liên tục giảm. Tuy nhiên, mấy ngày nay, tại showroom của Andes trên phố Huế, số người đến mua đã tăng lên rõ rệt”. Hiện, lượng MBH của công ty khá dồi dào. Khi mua một mũ Andes 3S tại hệ thống showroom Andes, khách hàng sẽ được tặng thêm một lót mũ.

Công ty thiết bị sản phẩm an toàn Việt Nam (US), chủ nhãn hiệu MBH Protec cho biết, công ty đã tăng 4 – 5 lần công suất sản xuất so trước. Mỗi ngày, Protec có khả năng cung cấp gần 5.000 sản phẩm ra thị trường và cam kết không tăng giá tất cả các sản phẩm MBH đến cuối năm 2013.

Công ty TNHH thương mại Chí Thành, nhà sản xuất MBH mang thương hiệu Chita cho hay, tới đây, công ty sẽ có hướng phát triển mới, trong đó, ưu tiên mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua các chuỗi cửa hàng liên kết và sẽ ra khoảng 6 – 10 mẫu MBH mới, đáp ứng nhu cầu của người dân. “Chúng tôi sẽ giảm 30% cho MBH 3/4 đầu, mũ bò cạp và không tăng giá các loại mũ khác” – Ông Lưu Song Hùng, Phụ trách phòng kinh doanh của công ty khẳng định.

Đại diện Công TNHH thời trang Nón Sơn cũng cho biết, sẽ không tăng giá 3 dòng sản phẩm là MBH CR 008, 009, 010 đến hết năm nay. Ngoài những DN trên, Công ty MBH Đức Huy, Tân Tiến SK; Á Châu; Kim Minh… đều có những cam kết tương tự.

Cần đa dạng mẫu mã

Nếu trước đây, trên các tuyến đường Giải Phóng, Nguyễn Hữu Thọ, Trường Chinh, Khâm Thiên,… các loại mũ bày trên vỉa hè luôn tấp nập người mua kẻ bán thì ở thời điểm hiện tại đã vắng hơn. Dọc theo các đường phố chuyên bán MBH “rởm” như Xuân Thủy, Đường Láng, Tam Trinh,… giá thành các loại MBH thời trang đều giảm từ 40 – 70%.

Đối lập với những cửa hàng bán mũ thời trang, một số đại lý MBH chính hãng lại có chiến lược “hút khách” bằng việc thông báo sẵn sàng đổi mũ thời trang sang hàng chính hãng, hợp quy. Theo đó, khách hàng được trừ 20.000 đồng vào chiếc mũ mới. “Chúng tôi làm thế để khuyến khích người dân đổi mũ mới, hợp quy mà không thấy tiếc rẻ chiếc cũ”, một chủ cửa hàng lý giải.

Về mẫu mã, nhiều người tiêu dùng cho rằng, hàng trong nước chưa thật nhiều và đẹp, mũ cho trẻ em còn đơn điệu. Chị Thu ở Đống Đa nhận xét: “Hiện nay một số trường học ở Hà Nội được Công ty MBH AIA tài trợ một loại MBH khá đẹp, nhiều phụ huynh đi tìm mua mà không có, các DN trong nước sao vẫn chưa thấy sản xuất loại mũ theo “phom” như vậy?”.

người tiêu dùng gia khách hàng chất lượng mở rộng thị trường thị trường bão công ty kênh phân phối thời trang hệ thống đại lý sản phẩm tiêu dùng

Cách mạng nhung trong ngành bán lẻ ?

công nghệ lợi thế cạnh tranh xây dựng thương hiệu bão sản phẩm mới chất lượng khách hàng chiến lược cạnh tranh sản phẩm độc quyền kết hợp tiêu dùng gia hợp tác công nhân tập đoàn kinh doanh người tiêu dùng cung cấp đối thủ cạnh tranh tổng thư ký liên kết nâng cao chất lượng thị phần chuyên gia phát triển kênh phân phối vượt qua

(DĐDN) – Đằng sau những nhãn hàng riêng của các siêu thị là những suy tính cân não của cả nhà sản xuất lẫn nhà phân phối. Vậy liên kết, hợp tác với nhà phân phối để cho ra hàng nhãn độc quyền theo hướng “kết hợp giá trị” hay tính tới một đối thủ cạnh tranh mới ?

cachmangnhung12a1-1aa50.gif

Nhãn hàng riêng có thể được xem là một “gam” gia vị riêng để NTD có thêm sự lựa chọn khi mua sắm trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay (ảnh: nhãn hàng riêng của BigC đang được nhiều người tiêu dùng lựa chọn)

Nhãn hàng riêng sẽ là một chiến lược rất thú vị của nhiều nhà bán lẻ và cũng là thử thách rất lớn cho các nhà sản xuất muốn giữ và xây dựng thương hiệu của chính mình thay vì trở thành nhà gia công.

Cuộc chạy đua của các nhà phân phối

Mở đầu trào lưu ra nhãn hàng riêng tại VN có thể kể đến Co.opmart với các sản phẩm của các đơn vị sản xuất thành viên của SaigonCo.op, ban đầu chỉ giới hạn trong một vài ngành hàng tạp phẩm như nước chấm, chao… hiệu Nam Dương. Sau đó đến hệ thống siêu thị Metro Cash&Carry. Ngay từ khi vào VN, đại gia bán sỉ này đã tung ra rất nhiều nhãn hàng riêng như: Aro, Quality, Horeca… Metro đa dạng hóa nhãn hàng riêng theo kiểu “thử và sai” nhằm đạt tỉ lệ tối ưu về danh mục sản phẩm, đồng thời đáp ứng các phân khúc khác nhau như người tiêu dùng, người bán sỉ. Không dừng lại ở việc phân phối trong hệ thống, Metro còn liên kết với các điểm bán lẻ để phân phối nhãn hàng riêng của mình.

Bigc có mặt tại thị trường VN từ năm 1995 với sản phẩm nhãn hàng riêng đầu tay là thịt nguội eBon đến 2007, Big C tung nhãn hàng riêng tiếp đó là “Wow! Giá hấp dẫn” (năm 2007), bánh mì, bánh ngọt “Bakery Big C” (năm 2009)… Chia sẻ với chúng tôi, ông Nguyễn Thái Dũng – Phó TGĐ Siêu thị BigC Thăng Long cho biết, hiện các sản phẩm này chỉ chiếm tỉ trọng khá “khiêm tốn” với gần 0,1% trong hệ thống siêu thị. Mặc dù vậy, nhìn nhận về chiến lược kinh doanh này, ông Dũng vẫn kỳ vọng sản phẩm nhãn hàng riêng đang là xu hướng kinh doanh bán lẻ mới, mang lại lợi cho cả 3 bên: nhà sản xuất, nhà phân phối và NTD. Do đó, hiện BigC đang đẩy mạnh đưa ra các sản phẩm nhãn hàng riêng giá rẻ khi liên kết với 70 DN sản xuất. Mỗi nhà phân phối, nhà bán lẻ có một chiến lược riêng cho nhãn hàng riêng của mình, nhưng tựu trung vẫn là thu hút khách hàng, tạo sự khác biệt, tăng lợi nhuận, khách hàng – ông Dũng cho biết.

Và số phận nhà sản xuất

Trong cuộc đua làm nhãn hàng riêng của các siêu thị, ai nắm được vận mệnh của nhà sản xuất sản phẩm gia công, nhà cung ứng nguyên liệu, thì sẽ nắm phần thắng trong tay. Vậy nên, cuộc chiến nhãn hàng riêng cũng kéo theo số phận của các nhà sản xuất. Kinh nghiệm từ các nhà sản xuất hàng hóa cho ông trùm bán lẻ Wal – Mart là không bao giờ cung cấp quá 30% sản lượng. Nếu cung cấp vượt quá tỉ lệ đó, nhà sản xuất có thể mất kiểm soát, hoặc có thể phải chịu thiệt hại nặng nề nếu Wal – Mart thay đổi hãng cung ứng, hoặc phát triển nhãn hiệu riêng.

Thực tế ở VN, theo ông Vũ Vinh Phú- Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, nhà sản xuất hiện có hai luồng quan điểm. Một là, DN chấp nhận làm nhãn hàng riêng cho siêu thị để ăn theo uy tín của siêu thị, phát triển kinh doanh. Hai là, DN chấp nhận bị nhãn hàng riêng đè bẹp, ăn dần miếng bánh thị phần. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế khó khăn, hàng tồn kho cao là một động lực khiến các nhà sản xuất phải “nhảy vào” cuộc đua phát triển nhãn hàng riêng. Từ đầu năm 2012, Cty Ba Huân bắt đầu cung cấp trứng gia cầm sạch cho các siêu thị như Big C, Co.opmart, Metro tại TP HCM để làm nhãn hàng riêng, với tỉ lệ chưa đến 5% tổng doanh số bán ra của Cty. Theo ông Phạm Thanh Hùng – Phó giám đốc Cty Ba Huân, các tập đoàn bán lẻ cũng đòi hỏi nhà sản xuất phải cung cấp hàng để họ làm nhãn hàng riêng. Hiện các siêu thị đang chiếm trên 30% tổng doanh số hàng bán ra của Cty. Nếu không chấp nhận gia công nhãn hàng riêng, thì sẽ mất mối vì các tập đoàn bán lẻ sẽ chọn nhà cung cấp khác ngay- ông Hùng nói.

Rõ ràng, đối với những nhà sản xuất chưa có thương hiệu mạnh, ngân sách hạn hẹp, thì nhãn hàng riêng sẽ là cơ hội tốt để tăng sản xuất. Nhưng đối với nhà sản xuất đã có tên tuổi, mức độ tác động của nhãn hàng riêng đến sản phẩm của DN chắc chắn bị ảnh hưởng.

Theo chia sẻ của một chuyên gia đầu ngành hàng bán lẻ VN, trước khi quyết định làm hàng nhãn riêng cho các siêu thị, DN cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng chuyện được – mất. Ngoài những cái được hiện hữu, làm hàng nhãn riêng tức là DN chấp nhận giảm lợi nhuận so với việc tự kinh doanh thương hiệu của mình, vì siêu thị bao giờ cũng đưa ra giá mua thấp hơn thị trường. Bên cạnh đó, sản xuất nhiều hàng nhãn riêng có thể khiến DN tự cạnh tranh với chính sản phẩm của mình, giảm cơ hội tự xây dựng một thương hiệu mạnh, giảm cơ hội tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng… Những đơn vị kém năng lực có thể mất luôn thương hiệu, dẫn đến việc trở thành một xưởng gia công chuyên nghiệp cho hệ thống phân phối. Lix là một ví dụ khá tiêu biểu. Trước đây, Lix từng được biết đến như một thương hiệu khá nổi tiếng trong ngành hàng gia dụng với sản phẩm nước rửa chén và bột giặt. Hiện nay, Lix đang cung cấp hàng nhãn riêng cho cả ba hệ thống: Metro, Big C và Co.opMart. Thậm chí Lix cũng đang gia công cho Omo, thương hiệu bột giặt số một của Tập đoàn Unilever- vị chuyên gia chia sẻ.

Liều thuốc thử cho DN

Nhãn hàng riêng quả thực là mối đe dọa đối với các nhà sản xuất, nhất là các DN nhỏ, chưa khẳng định được thương hiệu. Tuy nhiên, có rất nhiều cách để vượt qua mối đe dọa này, bởi suy cho cùng nhà sản xuất mới vẫn nắm nhiều lợi thế trong lĩnh vực của mình. Vấn đề của nhà sản xuất là phải hiểu rõ về nhãn hàng riêng, chấp nhận nó như một xu hướng tất yếu và chủ động đối phó.

Có thể xem nhãn hàng riêng là liều thuốc thử cho DN bởi qua đó sẽ đo đếm sản phẩm của nhà sản xuất đã thực sự là thương hiệu khó thay thế hay chưa. Để cạnh tranh, nhà sản xuất cần liên tục cải tiến, nâng cao chất lượng, bổ sung tính năng mới cho sản phẩm để hấp dẫn người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần tạo ra những sản phẩm mới nhằm tạo ra chiến lược bao vây, hỗ trợ cho sản phẩm cũ. Cao hơn nữa là phải tạo ra những sản phẩm độc đáo, riêng biệt để tạo lợi thế cạnh tranh; đồng thời đẩy mạnh đầu tư cho tiếp thị sản phẩm, mở rộng kênh phân phối, bán hàng… “Cách khôn ngoan là đẩy mạnh kênh bán hàng truyền thống, một kênh phân phối mà các nhãn hàng riêng của các siêu thị chưa và khó tiếp cận” – một chuyên gia trong lĩnh vực phân phối chia sẻ.

Trong thời khủng hoảng, việc đua nhau phát triển nhãn hàng riêng là một tất yếu. Tuy nhiên, đã đến lúc DN cần xác định mình muốn “là chính mình” hay trở thành một địa chỉ gia công chuyên nghiệp trong chuỗi cung ứng. Cao hơn một bước, DN sản xuất, nên chăng, hãy nghĩ đến việc liên kết, hợp tác với nhà phân phối để cho ra hàng nhãn độc quyền theo hướng “kết hợp giá trị”.

Bà Đinh Thị Mỹ Loan – Tổng thư ký Hiệp hội Các nhà bán lẻ VN:

Quản lý không tốt sẽ là “con dao hai lưỡi”

cachmangnhung12a2-1aa50.gifNếu quản lý không khéo, thì việc các siêu thị tung ra các nhãn hàng riêng lại chính là “con dao hai lưỡi” gây hại cho siêu thị. Vì trên thực tế, khi sản xuất sản phẩm, DN lại phải liên kết với một DN sản xuất, và nếu quản lý không tốt thì chính những sản phẩm này lại làm mất uy tín của hệ thống phân phối, vì họ có thể cung cấp những sản phẩm kém chất lượng. Các siêu thị nên quản lý tốt khâu thẩm định, giám sát hoạt động sản xuất của DN liên kết để đảm bảo chất lượng của hàng hoá. Đồng thời, nhà nước cũng nên có những cơ chế khuyến khích bằng các chính sách thuế, và cũng cần có những sự can thiệp, định hướng cụ thể cho các DN phân phối trong việc đưa ra nhãn hàng riêng. Vì vậy, liên kết giữa các DN sản xuất và phân phối nên dựa trên nguyên tắc cởi mở, minh bạch, công khai và bình đẳng giữa hai bên đều có lợi. Tuy vậy, xem ra việc “co kéo” quyền lợi giữa các bên vẫn còn tiếp tục là “cuộc chiến dài”.

Ông Nguyễn Duy Thuận -GĐ Cty Tư vấn BDS:

Nhà sản xuất phải có giải pháp dung hòa

cachmangnhung12a3-1aa50.gifQuá trình hình thành chuỗi nhãn hàng riêng sẽ gồm 7 bước: Phát minh – Độc quyền – Phân phối – Hết bảo hộ – Công nghệ tới hạn – Nhà bán lẻ – Nhãn hàng riêng. Cơ hội từ nhãn hàng riêng chính là ở giai đoạn công nghệ tới hạn, khi các DN VN có thể tiếp nhận công nghệ của các Cty lớn để từ đó gia công nhãn hàng riêng, mà không phải đầu tư quá lớn cho việc phát minh, marketing hay phân phối.

Bài toán được đặt ra là sản phẩm của chính các DN sản xuất đều phải cạnh tranh trực tiếp với nhãn hàng riêng của hệ thống siêu thị do chính mình làm ra, giảm cơ hội xây dựng thương hiệu, giảm cơ hội trực tiếp với người tiêu dùng. Vì vậy các nhà sản xuất cần phải cân nhắc cẩn thận. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất cũng có thể chủ động hợp tác với nhà bán lẻ, có thể chấp nhận gia công nhãn hàng riêng nếu năng lực sản xuất lớn, chưa sử dụng hết và có những sản phẩm độc quyền, chất lượng tốt. Đây chính là những “chiêu bài” để nhà sản xuất dựa vào để “đòi quyền lợi” cho sản phẩm mang thương hiệu của mình…

TS Vũ Đình Ánh: Gánh nặng không nhỏ

cachmangnhung12a4-1aa50.gifỞ VN, tuy kênh bán lẻ hiện đại, nơi sản sinh ra nhãn hiệu riêng mới chỉ chiếm khoảng 30% thị phần ngành bán lẻ nhưng lại đang tăng trưởng rất nhanh với 20-25% mỗi năm. Điều ấy đồng nghĩa với việc nhãn hiệu riêng ngày càng có đất để sinh sôi nảy nở trong tương lai. Nó là một cuộc chiến tổng bằng không. Ở đó các nhãn hiệu phổ thông sẽ phải nhảy múa chung với một gã trai trẻ, quyền thế và đầy tham vọng. Trong khi các DN VN mới ở giai đoạn đầu của cuộc chiến vượt qua tình trạng phổ thông hóa sản phẩm thì áp lực nhãn hiệu riêng sẽ là gánh nặng không nhỏ chút nào. Để vượt qua được, DN phải luôn đổi mới sản phẩm, đồng thời luôn sáng tạo trong phân phối (Internet, bán trực tiếp, người tiêu dùng sẽ là người bán hàng cho bạn…) vì suy cho cùng nhãn hiệu riêng là đứa con của những đại gia phân phối và bán lẻ hiện đại. Ngoài ra, DN cũng phải đầu tư hơn nữa vào hệ thống chuỗi cung ứng của mình – yếu tố đóng vai trò quan trọng giúp DN giảm chi phí, tăng cường dịch vụ khách hàng. Chí ít nó là “thành trì” quan trọng để bảo vệ thị phần.

Mai Thanh

chuyên gia liên kết kinh doanh người tiêu dùng lợi thế cạnh tranh chất lượng xây dựng hợp tác đối thủ cạnh tranh tiêu dùng bão chiến lược cung cấp tổng thư ký kênh phân phối khách hàng công nhân vượt qua độc quyền công nghệ cạnh tranh phát triển sản phẩm mới kết hợp nâng cao chất lượng sản phẩm thương hiệu gia thị phần tập đoàn

Thị trường bảo hiểm châu Á năm 2013: Cơ hội tăng trưởng vượt bậc

niềm tin của khách hàng thảm họa thiên nhiên lợi thế cạnh tranh tái bảo hiểm thị trường bảo hiểm gia phí bảo hiểm dịch vụ kênh phân phối tăng trưởng bão thị trường thanh toán bảo hiểm chiến lược phát triển khách hàng bảo hiểm khả năng thanh toán môi trường pháp lý thay đổi vụ bảo hiểm đóng phí bảo hiểm khách hàng ngành bảo hiểm công ty chiến lược tăng trưởng mạnh mẽ tài chính dịch vụ bảo hiểm công nghệ sản phẩm phát triển khách hàng tiềm năng bảo hiểm cá nhân chi phí thảm họa sản phẩm bảo hiểm người tiêu dùng bảo hiểm công ty bảo hiểm kế hoạch tài chính hãng bảo hiểm quy định rủi ro thảm hoạ

(Tài chính) “Nguồn khách hàng dồi dào và sự đa dạng địa lýtại khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ mang tới cho các công ty bảo hiểm những cơ hội tăng trưởng vượt bậc…” – Là dự báo chung về triển vọng thị trường bảo hiểm năm 2013 được Ernst & Young đưa ra mới đây. Bên cạnh đó, Ernst & Young cũng đưa ra năm tác nhân thị trường sẽ ảnh hưởng tới chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm nay.

AIG (1).jpg?maxwidth=434&speed=0

Năm 2013 đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho các côngty bảo hiểm châu Á

Theo Ernst & Young: Mặc dù kinh tế suy thoái, các quy định và chính sách tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương có nhiều thay đổi, ngành bảo hiểm vẫn có cơ hội phát triển ở những lĩnh vực như bảo hiểm cá nhân và quản lý tài sản, cũng như những sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu phức tạp của khách hàng về lập kế hoạch tài chính. Ông Paul Clark, Lãnh đạo dịch vụ Bảo hiểm khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ersnt & Young chia sẻ: “Tầng lớp trung lưu đang ngày càng thịnh vượng là nguồn khách hàng tiềm năng chính đóng phí bảo hiểm và lợi nhuận bảo hiểm. Điều này còn phụ thuộc vào mức độ phát triển đa dạng của thị trường bảo hiểm trong khu vực bao gồm các thị trường đã phát triển, đang phát triển và các thị trường bảo hiểm mới nổi. Việc cân bằng yếu tố rủi ro với những quy định thận trọng, tập trung vào việc tăng cường bảo vệ khách hàng bảo hiểm và gia tăng tính minh bạch của sản phẩm bảo hiểm sẽ là mối quan tâm hàng đầu cho các công ty bảo hiểm trong năm 2013”.

Bên cạnh việc đưa ra các dự báo chung về thị trường bảo hiểm, Ersnt & Young đã xác định được năm tác nhân thị trường sẽ ảnh hưởng tới chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm 2013. Cụ thể:

Thứ nhất, những cơ hội tăng trưởng tốt nhất (bao gồm cả những lĩnh vực mới nổi như y tế và lương hưu): Các Công ty bảo hiểm trong nước cũng như quốc tế sẽ được hưởng lợi ích từ tiềm năng tăng trưởng phí bảo hiểm có hệ thống và tỉ lệ thâm nhập thị trường của ngành bảo hiểm đang tăng lên của khu vực. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các công ty bảo hiểm cần cân nhắc và thận trọng hơn nữa trong việc lựa chọn thị trường nào nên thâm nhập hay thoái vốn, kênh phân phối nào nên sử dụng và làm thế nào để giảm thiểu chi phí trong khi vẫn duy trì hiệu quả hoạt động. Các công ty bảo hiểm cũng cần bảo đảm rằng kế hoạch và chiến lược của mình phải phù hợp với những thị trường mục tiêu hướng tới và cần có sự đầu tư đầy đủ vào hệ thống hỗ trợ hoạt động nhằm đảm bảo sự thành công của hoạt động kinh doanh này. Sự xuất hiện ngày càng tăng của bảo hiểm y tế và chương trình hưu trí trong khu vực cũng cho thấy cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ cho các công ty bảo hiểm.

Thứ hai, sự thay đổi nhanh chóng trong môi trường pháp lý:Các công ty bảo hiểm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang phải đối mặt với nhiều quy định cho ngành bảo hiểm bao gồm Luật Đảm Bảo Khả Năng Thanh Toán II (Solvency II), Tiêu chuẩn Vốn Chủ Sở Hữu Dựa Trên Rủi Ro (US risk-based capital standards), và việc chuẩn mực hóa hệ thống kế toán bảo hiểm theo Chuẩn Mực Lập Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế (IFRS). Đồng thời các nhà chính sách cũng đang tìm cách củng cố niềm tin của khách hàng trong ngành bảo hiểm. Trong bối cảnh phức tạp của các quy định, các công ty bảo hiểm trong năm 2013 cần phải quan tâm tới những thay đổi mang tính sâu rộng trong hoạt động và cơ cấu. Rất nhiều công ty đang phải đối mặt với những quyết định khó khăn trong đó có việc tái cân bằng hệ sản phẩm dựa trên sự phân bổ nguồn vốn, xác định hoạt động kinh doanh và dòng sản phẩm nào cần gỡ bỏ, và chiến lược tái bảo hiểm nào là tối ưu, cân nhắc đến những thảm họa thiên nhiên trong thời gian gần đây.

Thứ ba, quản lý sự gia tăng của những rủi ro thảm họa trong khu vực:Các thảm họa tự nhiên như thảm họa kép động đất và sóng thần Tohoku, động đất ở New Zealand và trận lũ lụt lớn ở Thái Lan và Úc đang định hình lại cách nhìn của các công ty bảo hiểm về rủi ro và tái bảo hiểm. Mức độ nghiêm trọng và tần suất của những thảm họa vừa qua đang khiến cho các công ty bảo hiểm nhượng tái rủi ro nhiều hơn cho những đơn vị tái bảo hiểm. Thách thức cho nhiều thị trường tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương là khả năng thanh toán bảo hiểm, cũng do vậy chi phí tăng thêm cho tái bảo hiểm thường không phải là lựa chọn được cân nhắc. Những thảm họa gần đây đã cho thấy những chiều hướng mới của mô hình thảm họa và sự tương quan giữa những rủi ro.

Thứ tư, đầu tư vào công nghệ để có thể tăng trưởng, cải thiện hoạt động và quản lý rủi ro:Việc giới thiệu các sản phẩm phức tạp hơn, phân tích các số liệu, cùng với việc tuân thủ những quy định dựa trên rủi ro đang làm cho những hệ thống và quy trình cũ dần đến mức quá tải. Do đó, đầu tư vào công nghệ để tăng trưởng, cải thiện hoạt động và quản lý rủi rolà sự cần thiết mang tính chiến lược, đòi hỏi sự ưu tiên về chi phí và xác định lợi ích so với phí tổn. Đồng thời, môi trường pháp lý đang có nhiều thay đổi và chặt chẽ hơn sẽ là một chất xúc tác để thay thế hệ thống IT rời rạc, lỗi thời, không được thiết kế nhằm đáp ứng những chiến lược đa tiền tệ và đa sản phẩm. Ngoài ra, những công ty bảo hiểm có hoạt động xuyên quốc gia phải đối mặt với những thách thức khác về việc bảo mật dữ liệu và tích hợp hệ thống hỗ trợ hoạt động khác nhau.

Thứ năm, sự cần thiết trong việc tìm ra các dịch vụ sáng tạo mới nhằm vào công nghệ di động:Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm một nửa dân số sử dụng di động của thế giới (2.9 tỉ thuê bao đang hoạt động trong năm 2010), điện thoại di động đã trở thành phong cách sống. Do vậy, để bắt kịp với những sản phẩm và dịch vụ phục vụ theo phong cách sống mới này, các công ty bảo hiểm phải có những kênh phân phối và chiến lược dịch vụ mới. Những kênh phân phối thay thế khác như cổng thông tin (Web Portals) đang được triển khai trên khắp khu vực nhằm bổ sung hoặc thay thế những đại lý truyền thống, mặc dù bancassurance(bảo hiểm liên kết ngân hàng)tiếp tục tăng trưởng.Khảo sát người tiêu dùng toàn cầu của Ernst & Young cho thấy rằng người tiêu dùng sẽ nghiên cứu sản phẩm và vận chuyển qua mạng trước khi quyết định mua sắm. Do công nghệ di động phát triển vững chắc tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, các công ty bảo hiểm cần tìm giải pháp để giữ thị phần và tạo dựng lợi thế cạnh tranh.

dịch vụ bảo hiểm công ty bảo hiểm tăng trưởng mạnh mẽ dịch vụ bảo hiểm khách hàng tiềm năng phí bảo hiểm quy định hãng bảo hiểm bão lợi thế cạnh tranh gia thảm họa công nghệ người tiêu dùng kế hoạch tài chính thị trường bảo hiểm khả năng thanh toán công ty thảm họa thiên nhiên tái bảo hiểm rủi ro thảm hoạ tăng trưởng thị trường tài chính niềm tin của khách hàng khách hàng bảo hiểm chiến lược phát triển khách hàng chiến lược môi trường pháp lý thanh toán bảo hiểm ngành bảo hiểm phát triển vụ bảo hiểm sản phẩm bảo hiểm sản phẩm chi phí kênh phân phối đóng phí bảo hiểm thay đổi bảo hiểm cá nhân

Thị trường bán lẻ Việt Nam: Vẫn có sức hấp dẫn lớn

hấp dẫn thị trường việt nam phát triển mở rộng quy mô thị trường tập đoàn bão tổng thư ký tiêu dùng kinh tế công ty kênh phân phối thị trường người tiêu dùng tổng giám đốc hàng hóa thủ tục hành chính thị trường bán lẻ việt nam

KTĐT – Mặc dù thị trường bán lẻ Việt Nam vừa rớt khỏi top 30 thế giới nhưng theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong năm 2013 và những năm tới thị trường này vẫn có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.

Tiềm năng lớn

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong năm 2012 đạt trên 2,32 triệu tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2011. Trong tháng 1/2013 chỉ số này đạt 209,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cho thấy, ngành bán lẻ của Việt Nam vẫn có mức tăng trưởng khá cao trong khi kinh tế có nhiều khó khăn.

Theo bà Đinh Thị Mỹ Loan, Tổng Thư ký Hiệp hội Các nhà bán lẻ: Với 90 triệu dân, trong đó dân số trẻ, những người thường xuyên mua sắm trên các kênh bán lẻ hiện đại chiếm khoảng 50%, Việt Nam vẫn là điểm đến của nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Trong khi đó, kênh bán lẻ hiện đại mới chỉ chiếm 20%, dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ nâng tỷ lệ này lên 45%, vì vậy cơ hội khai thác thị trường này còn rất lớn.

thitruong19022013-g.jpg

Thị trường Việt Nam vẫn có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài nước. Trong ảnh: Khách hàng lựa chọn hàng hóa tại Siêu thị Fivimart.Ảnh: Thu Hương

Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT) cho thấy, trong năm 2012, ngoài các nhà bán lẻ lớn đã kinh doanh lâu năm tại Việt Nam, một số nhà bán lẻ mới đã bắt đầu vào Việt Nam đầu tư như: Công ty Lotte Mart tăng mức đầu tư vào Việt Nam với số vốn 50 triệu USD. Takashimaya – tập đoàn bán lẻ hàng đầu Nhật Bản, cũng đã công bố dự án trung tâm mua sắm Aeon Tân Phú Celadon tại TP Hồ Chí Minh với mức đầu tư 109 triệu USD. Tập đoàn E – Mart (Hàn Quốc) đã ký kết thiết lập liên doanh bán lẻ với Tập đoàn U&I tại Việt Nam với vốn đầu tư ban đầu 80 triệu USD…

Báo cáo nghiên cứu về “Dự báo thị trường bán lẻ của Việt Nam đến năm 2014” của Tổ chức tư vấn AT Kearney (Mỹ) cho thấy, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn đầy sức hút nhờ quy mô thị trường và số lượng người tiêu dùng lớn. Dự báo, từ nay đến năm 2014, doanh số bán lẻ tại Việt Nam có thể tăng 23%/năm.

Việc các DN nước ngoài tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống bán lẻ bất chấp kinh tế khó khăn, sức mua đi xuống cho thấy thị trường Việt Nam thật sự hấp dẫn.

Tăng tốc mở rộng

Trong thời gian gần đây không chỉ các DN bán lẻ nước ngoài mới đẩy mạnh đầu tư mà các nhà bán lẻ Việt Nam cũng đang từng bước mở rộng hệ thống chuỗi của mình. Chỉ trong vài tháng cuối năm 2012, Công ty Viễn Thông A đã cho ra mắt 9 trung tâm Smartphone, dự kiến trong năm 2013 Viễn Thông A sẽ phát triển các trung tâm này thành hệ thống lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

muahang.jpg

Người tiêu dùng lựa chọn mua hàng hóa tại Siêu thị BigC.Ảnh: Thu Hương

Sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ đã kéo theo sự tham gia của một vài cái tên mới, cuối tháng 12/2012, Tập đoàn C.T Group đã khai trương siêu thị S.Mart, dự kiến trong năm 2013 C.T Group sẽ phát triển mạnh hệ thống siêu thị này trên toàn quốc.

Bà Vũ Thị Hậu, Phó Tổng Giám đốc Công ty Nhất Nam (hệ thống siêu thị Fivimart) cho biết: Trong năm 2013, Fivimart sẽ đưa vào sử dụng 5 siêu thị tại các vị trí trung tâm của Thủ đô. Theo ông Quách Cường, Giám đốc khu vực phía Bắc của Saigon Co.op, kế hoạch đến năm 2015 đơn vị sẽ phát triển chuỗi siêu thị mang thương hiệu Co.opMart lên con số 100 trên toàn quốc, trong đó chú trọng phát triển mạng lưới bán lẻ ra vùng ven đô.

Việc các DN bán lẻ trong và ngoài nước tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống bán lẻ cho thấy thị trường Việt Nam thật sự hấp dẫn. Tuy nhiên, để thúc đẩy các DN bán lẻ đẩy mạnh đầu tư các nhà quản lý cần tạo môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng; giảm thiểu thủ tục hành chính… có như vậy, mới góp phần minh bạch hóa và tạo điều kiện giúp DN có môi trường hoạt động tốt hơn.

Về phía các DN, để phát triển cần hình thành chuỗi cung ứng hàng hóa; đẩy mạnh sự liên kết giữa DN sản xuất với DN phân phối và giữa các nhà phân phối với nhau, từng bước phát triển hệ thống phân phối hiện đại có tính toàn cầu. Ngoài ra, việc kết hợp giữa bán lẻ hiện đại với bản lẻ truyền thống từ đó tạo ra kênh phân phối hữu hiệu cho hàng Việt cũng rất cần đẩy mạnh trong thời gian tới.

tiêu dùng thị trường bán lẻ thủ tục hành chính việt nam kinh tế mở rộng kênh phân phối hàng hóa thị trường phát triển tổng giám đốc công ty thị trường việt nam tập đoàn hấp dẫn tổng thư ký quy mô thị trường bão người tiêu dùng

4 lí do Facebook không thèm sản xuất điện thoại?

kênh phân phối thị trường thiết bị mạng xã hội facebook sự kiện chất lượng dịch vụ hệ điều hành điện thoại

34505380_PALM_1_610x457.png
Mẫu điện thoại HTC Status có phím Facebook riêng. Ảnh: Cnet

ICTnews – Tin đồn điện thoại Facebook cuối cùng chỉ là… tin đồn sau khi Facebook công bố Graph Search vào sự kiện rạng sáng 16/1.

>> Graph Search do cựu nhân viên Google phát triển

Mấy ngày trước sự kiện Facebook, tin đồn về điện thoại Facebook càng nóng lên. Đó là câu chuyện hấp dẫn tới mức mọi người đều tin là thật. Việc CEO Mark Zuckerberg liên tiếp phủ nhận việc dấn thân vào mảng di động dường như không có ý nghĩa gì tới người dùng. Tuy nhiên, sự kiện Facebook hôm 16/1 chứng minh Zuckerberg đúng. Facebook có nhiều lí do để xa lánh cuộc chơi điện thoại di động, dù là nền tảng hay phần cứng.

1. Smartphone là mảng “khó nhằn”

Trừ phi đang làm việc cho Apple hay Samsung, kinh doanh smartphone là cuộc đua dài hơi và mệt mỏi. Gần như mọi hãng điện thoại đều đang thua lỗ, ngay cả HTC dù chưa lỗ vẫn trượt dài.

Rất khó để trở nên nổi bật trước một rừng điện thoại Android bình dân, giá rẻ đang tràn ngập thị trường hay hàng loạt “siêu điện thoại” từ Apple hay Samsung. Cuộc chơi smartphone đang nghiêng về phía nhận diện thương hiệu, và Samsung, Apple là người chiến thắng.

2. Cơn đau đầu từ các nhà mạng

Nếu Facebook gia nhập mảng thiết bị, có nhiều thứ hãng phải làm: kênh bán lẻ, kênh phân phối, quan hệ với nhà mạng. Các nhà mạng luôn yêu cầu chất lượng dịch vụ cao, và khiến các hãng thiết bị di động phải lao tâm khổ tứ để được chấp thuận cho bán. Trong khi đó, kinh nghiệm của Facebook mới nằm ở phần mềm và trải nghiệm người dùng mà chưa từng thử nghiệm phần cứng.

3. Thị trường hệ điều hành đã bão hòa

Nền tảng Facebook chỉ “tốn tiền” nghiên cứu và phát triển khi dường như người dùng di động không còn cần thêm một nền tảng smartphone khác nữa. Năm 2013, hai nền tảng di động thống trị chắc chắn vẫn là Android, iOS; hai nền tảng tiếp theo là BlackBerry 10 và Windows Phone 8; bên cạnh đó còn có Ubuntu, Firefox, Tizen.

Xây dựng một hệ điều hành đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu liên quan tới mọi khía cạnh phần mềm. Khó làm đúng, dễ thất bại. Nếu Facebook muốn dấn sâu vào lãnh địa phần mềm, tốt hơn hãng nên bắt tay với đối tác như HTC hay Samsung để tạo ra trải nghiệm mạng xã hội sâu sắc hơn như một phần của nền tảng sẵn có.

4. Facebook cần tập trung vào ứng dụng

Facebook vẫn chưa có chiến lược di động rõ ràng và đang loay hoay tìm đường kiếm tiền từ ứng dụng. Cho tới thời điểm hiện tại, hiệu quả từ di động không đáng kể. Ngoài ra, nhiều người dùng phàn nàn sử dụng Facebook trên di động quá nhạt nhẽo. Cải tiến ứng dụng Facebook trên di động nên là ưu tiên số một.

Thực tế, Facebook từng “mon men” vào thị trường di động thông qua sự hợp tác với HTC. Hai mẫu HTC Salsa và HTC Status (ChaCha) đều có nút bấm Facebook riêng cho phép truy cập mạng xã hội nhanh chóng. Tuy nhiên, bất chấp sự phổ biến của Facebook, điện thoại Facebook không thể cất cánh.

Dù vậy, không thể đoán trước liệu Facebook có phát triển chiến lược di động theo lối đi của đối thủ Google hay không. Không có cách nào “sở hữu” trọn vẹn trải nghiệm người dùng tốt hơn việc thông qua thiết bị cá nhân như smartphone.

Du Lam

Theo Cnet

điện thoại thiết bị hệ điều hành kênh phân phối mạng xã hội facebook sự kiện chất lượng dịch vụ thị trường