Trộm tiền từ thẻ ATM

Các chuyên gia an ninh mạng khuyên chủ thẻ nên chọn dịch vụ thanh toán thông qua các ngân hàng có giải pháp bảo mật cao

Dịch vụ mua hàng hóa trực tuyến ngày càng nâng cấp gắn liền với ngân hàng (NH) điện tử (Internet Banking), kết nối thông tin với điện thoại di động, đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng. Tuy nhiên, nếu chủ thẻ mất cảnh giác, kẻ gian có thể tận dụng các kẽ hở để rút tiền từ ATM. Gần đây đã xuất hiện thêm nhiều thủ đoạn mới.

Trộm tiền từ thẻ ATM

Để tránh bị kẻ gian trộm tiền, người sử dụng thẻ ATM cần chủ động bảo mật thông tin. Ảnh: Hồng Thúy

Đánh cắp sim điện thoại

Để tiện lợi cho việc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, nhiều chủ thẻ ATM đăng ký số điện thoại di động với NH. Theo đó, các NH sẽ cung cấp mã số xác thực bằng tin nhắn gửi đến số điện thoại của chủ thẻ với mỗi lần giao dịch trực tuyến.

Lợi dụng kết nối này, kẻ gian thường dò tìm số thẻ, tên của chủ thẻ, đánh cắp sim điện thoại của chủ thẻ rồi tiến hành mua hàng hóa qua mạng. Vụ việc gần nhất là một chủ thẻ ở Hà Nội bị người khác làm giả CMND rồi đến một đại lý điện thoại di động đề nghị cấp lại sim mới. Do số điện thoại của chủ thẻ có liên kết với NH nên mỗi lần giao dịch, NH đều gửi đến số điện thoại này mã số xác thực. Với sim điện thoại đánh cắp và các mã số xác thực, kẻ gian đã thực hiện 4 giao dịch mua hàng hóa trực tuyến làm cho chủ thẻ mất hàng chục triệu đồng…

Theo một số chuyên viên Trung tâm Thẻ Eximbank, trước khi bị mất sim điện thoại, có thể chủ thẻ đã để lộ thông tin cá nhân cho người khác biết. Sau khi có được số thẻ và tên của chủ thẻ, kẻ gian mới tính đến việc đánh cắp sim điện thoại. Bởi khi mua hàng qua mạng, người mua phải nhập tên chủ thẻ, số thẻ, số tiền thanh toán…, sau đó sẽ nhận được mã số xác thực qua tin nhắn điện thoại rồi nhập vào hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ, giao dịch mới thực hiện được.

Trường hợp đánh cắp được thẻ tín dụng quốc tế thì kẻ gian chỉ cần đột nhập hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ tên, số thẻ được in trên mặt trước và 3 chữ số cuối của dãy 7 chữ số được in trên mặt sau thẻ tín dụng là mua được hàng hóa qua mạng, đồng nghĩa người mất thẻ tín dụng đã mất tiền.

Thủ đoạn tinh vi

Một chiêu thức khác là kẻ gian dùng máy nghe nhạc MP3 để ghi lại tiếng động khi chủ thẻ bấm bàn phím tại các máy ATM đặt ở nhà hàng, siêu thị… Dữ liệu được chuyển thành những con số có thể đọc được thông qua chương trình máy tính. Tinh vi hơn, chúng còn dùng một bàn phím giả đặt lên bàn phím máy ATM để truyền số PIN của chủ thẻ về điện thoại hoặc máy tính, rồi dùng thẻ giả rút tiền trót lọt.

Một lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cho biết chiêu thức “rút ruột” ATM phổ biến nhất là kẻ gian sử dụng nickname người thân của chủ thẻ để chat với chủ thẻ, rồi đưa ra lý do hợp lý, thuyết phục chủ thẻ cho mượn tiền để thanh toán tiền mua hàng hóa. Do cứ nghĩ người chat với mình là người thân nên nhiều chủ thẻ cả tin chuyển tiền vào tài khoản mà kẻ gian đưa ra.

Theo các NH, bọn tội phạm còn giả danh NH gửi email yêu cầu chủ thẻ cung cấp thông tin cá nhân hoặc gửi virus chiếm quyền điều khiển máy tính. Khi chủ thẻ truy cập vào một website chính thống sẽ bị chuyển đến một website giả mạo. Mọi thông tin mà chủ thẻ nhập vào website giả mạo sẽ bị kẻ xấu sử dụng để rút tiền từ thẻ ATM…

Từ khoá: hàng hóa tín dụng máy tính dịch vụ trực tuyến thanh toán bảo mật thông tin gia thông tin atm điện thoại cung cấp

Advertisements

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm

Giữa Sài Gòn tấp nập, chợ đầu mối này hoạt động cả ngày lẫn đêm, không bao giờ ngừng nghỉ. Điều đặc biệt là giá cả các mặt hàng ở đây rẻ hơn bên ngoài khoảng 3-4 lần.

Nhộn nhịp chợ đêm

Từ lâu, chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức đã được biết đến là khu chợ buôn bán nhiều loại trái cây, hoa quả và rau xanh lớn ở Sài Gòn. Hàng hóa ở đây không bán lẻ mà chuyên sỉ với số lượng lớn.

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 1

Cảnh buôn bán nhộn nhịp ở chợ đầu mối Thủ Đức

Trước 1975, chợ đầu mối Thủ Đức chỉ là chợ cá Trần Quốc Toản, tọa lạc ở khu vực gần siêu thị Sài Gòn, thuộc góc đường 3 tháng 2 và Lý Thái Tổ (Quận 10). Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chợ không còn hoạt động.

Một thời gian sau, chợ di dời về chợ cầu Ông Lãnh (Quận 1) và tồn tại đến tháng 10/2003 thì chấm dứt và dời về chợ Bình Điền (Quận 8). Cùng chung số phận với bạn hàng bán cá, các vựa trái cây chợ cầu Ông Lãnh, cầu Cầu Muối phải di dời lên chợ đầu mối Thủ Đức và chợ đầu mối Tân Xuân (Hóc Môn).

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 2

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 3

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 4

Chợ tạo công ăn việc làm cho nhiều người

Chợ đầu mối Nông sản Thực phẩm Thủ Đức được khởi công xây dựng vào năm 2002 có diện tích 203.676 m2 nằm trên quốc lộ 1A (Quận Thủ Đức) có sức chứa 1.584 sạp.

Chợ bao gồm các khu nhà lồng chợ A, nhà lồng chợ B, nhà lồng chợ C và nhiều công trình phụ trợ như nhà kho, khu quản lý, khu điều hành, khu sơ chế, nhà máy xử lý rác, trạm nước ngầm, trạm xử lý nước thải…

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 5

Chợ có diện tích rộng

Trung bình mỗi ngày lượng hàng hóa nhập vào chợ lên đến hơn 2.800 tấn. Ngoài ra, khi chợ hoạt động cũng đã tạo được công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trên điạ bàn quận kể cả số lao động di dời từ các chợ Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh tới.

Hàng hóa ở đây có đủ loại, từ trái cây đến rau xanh và hoa, đồ khô. Sạp nào cũng bạt ngàn các loại trái cây ngon có nguồn gốc từ miền Tây hoặc miền Bắc. Trái cây đủ loại từ thanh long, sầu riêng, táo, cam, nhãn, bơ, dưa hấu… Rau xanh có khoai tây, ớt Đà Lạt, cà tím, cải xoong… Chưa hết, ở đây còn bán nhiều loại hoa như hoa hồng, hoa ly…

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 6

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 7

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 8

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 9

Chợ bán rau, trái cây đủ loại và giá cả ở đây rẻ hơn bên ngoài đến 3-4 lần

Giá cả ở chợ khá dễ chịu, đa phần đều thấp hơn 3-4 lần so với giá bán lẻ thông thường bên ngoài. Tiểu thương ở đây thường không chào mời người mua vì họ bán cho người quen là nhiều.

Chợ bán buôn từ 21h đêm đến 4h sáng và có một khu ẩm thực bán cơm, trái cây, xôi, bánh mì… phục vụ những người buôn bán tầm đêm. Tại chợ còn có đội ngũ bốc vác và bảo vệ túc trực 24/24, khi nào có xe hàng tới sẽ chạy ra ngay và có đền thờ Quan Âm nhỏ, do tiểu thương trong chợ lập ra để cúng kiếng cầu buôn may bán đắt.

Nhọc nhằn gánh nặng mưu sinh

Ở chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức không thiếu những cảnh đời mưu sinh vất vả. Họ ở luôn trong chợ làm nhiệm vụ bốc vác, dỡ hàng và nhiều người ăn ngủ luôn ở đây.

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 10

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 11

Những phận đời mưu sinh ở chợ

“Ngày nắng thì không sao, ngày mưa thì khổ lắm cô ạ”, chị Thu, 32 tuổi, quê Chợ Lách – Tiền Giang cho biết. Chị bảo trong chợ không chỉ đàn ông làm thôi đâu, cả phụ nữ cũng tham gia bốc dỡ hàng hóa, trái cây hay hoa tươi. “Sáng tôi nghỉ ở nhà lo cơm nước cho chồng con, tối 8h lại ra đây đẩy hàng. Trung bình mỗi ngày tôi kiếm được 200.000 đồng, thỉnh thoảng chủ vựa cho chúng tôi ít trái cây làm quà nên tính ra cũng đủ sống”.

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 12

Đột nhập khu chợ siêu rẻ, hoạt động suốt ngày đêm 13

Phận nữ mưu sinh trong chợ.

Ngoài những người bốc xếp hàng, nhiều chị em phụ nữ còn bán thêm sữa đậu nành, gánh xôi hay gom mấy chai nước ngọt đem tới khu xe tải đậu bán cho khách.

Tuy nhiên theo tiết lộ của cô H, 45 tuổi, chủ sạp bán rau cải thì lượng nhập hàng năm nay chỉ bằng 1/2 năm ngoái và lái buôn thường không trả tiền ngay hoặc cứ lỗi hẹn, khất lần nên tiền trả cho nhân công thường thiếu và có phần ít hơn so với mọi năm. Thậm chí, nhiều chủ vựa còn trả công bằng trái cây hoặc rau thay bằng tiền mặt vì tình hình buôn bán khó khăn.

Từ khoá: gia hàng hóa

Cần xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành

(Chinhphu.vn) – Nếu không triển khai xây dựng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tới cũng như tiến độ chiến lược phát triển giao thông hàng không đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Phối cảnh Cảng HK Long Thành. Ảnh VGP/Quỳnh Hoa

Đây là nhận định chung của các đại biểu về dự hổi thảo góp ý Báo cáo đầu tư xây dựng Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành tổ chức sáng nay (8/7).

Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định sô 703/QĐ-TTG ngày 20/7/2005. Dự án nằm trên diện tích khoảng 25.000 ha thuộc địa bàn 6 xã tỉnh Đồng Nai.

Theo quy hoạch, quá trình xây dựng sẽ chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 (2014 – 2020), Long Thành sẽ có công suất 25 triệu khách mỗi năm với 2 đường cất hạ cánh. Giai đoạn 2 (2020 – 2030) sẽ có công suất 50 triệu hành khách và giai đoạn 3 (sau năm 2030) sẽ lên 100 triệu hành khách mỗi năm với 4 đường bay.

Theo đó, tổng mức đầu tư cho giai đoạn một của dự án ước tính hơn 5,6 tỷ USD. Nếu phương án rút gọn bao gồm chỉ xây dựng 1 đường băng và nhà ga thì mức đầu tư khoảng 4 tỷ USD. Trong đó, vốn Nhà nước và ODA chiếm khoảng 53%, còn lại là tư nhân. Để triển khai dự án giai đoạn 1 cần 5.000 ha đất trong đó 65% chủ yếu là rừng cao su 35%, khoảng 1.025 hộ dân bị ảnh hưởng.

Theo Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam Nguyễn Nguyên Hùng: Trong 10 năm qua tốc độ tăng trưởng của hàng không nội địa trên 20%/ năm, lượng khách quốc tế tăng 15%/năm.

Theo thiết kế, đến năm 2018-2020 Cảng hàng không Tân Sơn Nhất sẽ đạt công suất thiết kế 25 triệu hành khách/năm, 600 ngàn tấn hàng hoá. Dự báo đến năm 2030 lượng hành khách qua cảng này là 44 triệu hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hoá, như vậy Cảng HK Tân Sơn Nhất sẽ bị quá tải. Để nâng công suất phục vụ được như dự báo do vậy phải xây dựng cảng hàng không mới hoặc mở rộng Tân Sơn Nhất.

Tuy nhiên, nếu mở rộng Tân Sơn Nhất phải mở về hướng bắc thêm một đường cất cánh, để làm được việc này cần khoảng 350 ha đất và cũng chỉ nâng công suất phục vụ được 50 triệu hành khách, còn với quy mô trên 50 triệu là không đáp ứng được.

Mặt khác nếu xây dựng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nếu tính chi phí thu hồi 5.000 ha đất của dự án mất 7,8 tỷ USD, trong khi nếu mở rộng Tân Sơn Nhất chi phí thu hồi đất mất 9,1 tỷ USD.

Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các cảng hàng không lớn đều nằm cách trung tâm thành phố từ 15-60 km. Với tiêu chí khoảng cách 60km tính từ trung tâm TP Hồ Chí Minh, vị trí quy hoạch Cảng Hàng không Long Thành tại Huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đảm bảo phù hợp với tiêu chí khoảng cách về thời gian vận chuyển hàng hoá, hành khách đi đến TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Ông Lại Xuân Thanh, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam cho biết: Công việc quan trọng trước tiên của dự án này là Bộ Giao thông vận tải phải hoàn thiện đề án trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội thông qua về mặt chủ trương vào tháng 10 này .

Theo đánh giá của Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam việc đầu tư xây sân bay Long Thành được cho là khả thi, tỷ suất hoàn vốn dự án khoảng 22,1%, cao hơn mức tiêu chuẩn cho các công trình công cộng tại Việt Nam từ 10% đến 12%.

Tuy vậy, các đại biểu cũng góp ý nên cân nhắc đến gánh nặng nợ nước ngoài. Với tổng thể dự án được đánh giá hiệu quả đối với nền kinh tế, nhưng theo các đại biểu tại hội thảo trong từng hạng mục như nhà ga hành khách, bãi đậu ôtô nên kêu gọi đầu tư tư nhân. Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Cảng hàng không kiến nghị Chính phủ cần xem xét các chính sách đặc biệt như bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ, bảo đảm độc quyền, ưu đãi thuế…

Quỳnh Hoa

Từ khoá: quốc tế xây dựng hàng không chính phủ vận chuyển hàng hóa mở rộng nền kinh tế hàng hóa việt nam quá trình xây dựng hành khách bão

Khẳng định hiệu quả từ chương trình bình ổn thị trường

Bình ổn thị trường tăng kiềm chế lạm phát

Theo Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), trong nhiều năm qua, đặc biệt là năm 2012, chương trình bình ổn thị trường đã góp phần đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu tại nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Bên cạnh đó, bình ổn thị trường còn là một trong những công cụ để các địa phương chủ động trong điều tiết cung cầu, góp phần giảm áp lực tăng giá trong các dịp cao điểm, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, phát triển mạng lưới phân phối hàng hóa, đặc biệt là mạng lưới bán hàng bình ổn tại các khu vực tập trung người lao động.

Chương trình bình ổn thị trường tập trung cung cấp hàng hóa thiết yếu của người dân. (Ảnh: cpv.org.vn)

Khẳng định tính tích cực, hiệu quả của chương trình bình ổn thị trường trong năm 2012, theo đánh giá của ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), với sự tham gia của 45/63 địa phương cùng sự đồng hành của trên 300 doanh nghiệp, chương trình đã tập trung cung cấp những hàng hóa thiết yếu của người dân như lương thực, đường, dầu ăn, thực phẩm tươi sống, trừng gia cầm, sách giáo khoa và dụng cụ học tập, thuốc chữa bệnh và một số hàng hóa tư liệu sản xuất như phân bón, giống cây trồng…

“Trên thực tế, các doanh nghiệp đã đăng ký giá và cam kết bán hàng bình ổn giá với giá thấp hơn giá thị trường từ 5 – 10% góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát. Năm 2012, CPI của TP HCM là 4,07%, CPI của Hà Nội là 6,29% thấp hơn khá nhiều mức tăng CPI 6,81% của cả nước”, ông Quyền cho biết.

Điểm nổi bật trong sự thành công của chương trình bình ổn thị trường là ở chỗ, các doanh nghiệp từ việc tổ chức bán hàng tại các siêu thị, trung tâm thương mại nay đã thực hiện ngày càng nhiều chuyến bán hàng lưu động, đưa hàng về nông thôn, các huyện ngoại thành, miền núi, vùng xâu vùng xa, đồng thời thiết lập nhiều điểm bán hàng cố định tại các khu công nghiệp, các chợ truyền thống khu vực nông thôn.

Theo bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Phó cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), từ chỗ 100% doanh nghiệp nhận vốn vay hỗ trợ trong những năm đầu triển khai chương trình, đến năm 2012, trong tổng số hơn 300 doanh nghiệp tham gia chương trình nhưng đã có khoảng 60 doanh nghiệp chủ động nguồn vốn và nguồn lực, không nhận hỗ trợ về vốn của nhà nước.

“Chương trình bình ổn thị trường đã từng bước tạo được chuỗi liên kết sản xuất và phân phối với người tiêu dùng, tạo được liên kết giữa các doanh nghiệp trong chương trình với nhau, giữa các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh lân cận. Có nhiều địa phương đã và đang xây dựng, triển khai mô hình liên kết tiêu thụ nông sản giữa các địa phương”, bà Nga nhận xét.

Chưa chủ động trong liên kết doanh nghiệp

Theo ông Nguyễn Văn Đồng, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hà Nội, mặc dù việc triển khai đồng bộ các chương trình nhằm bình ổn giá thị trường đã phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số những khó khăn chưa thể giải quyết.

“Nhiều điểm bán hàng bình ổn giá phân bố không đồng đều, còn tập trung nhiều ở các trung tâm thương mại, siêu thị, trong khi tại các địa bàn vùng nông thôn, khu vực ngoại thành, các khu công nghiệp… hệ thống bán hàng bình ổn giá còn phân bố tương đối mỏng”, ông Đồng nói.

Ngoài ra, theo ông Đồng, trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, một số doanh nghiệp chưa nghiêm chỉnh thực hiện quy định về giá bán đối với nhóm hàng bình ổn giá, còn có trường hợp bán cáo hơn so với giá bán được thẩm định.

Đồng tình với quan điểm của Sở Công Thương TP Hà Nội, bà Lê Ngọc Đào – Phó Giám đốc Sở Công Thương TP HCM chia sẻ, mạng lưới bán hàng bình ổn đã phát triển nhanh rộng khắp địa bàn thành phố. Tuy nhiên, khi vào các chợ truyền thống vẫn còn gặp khó khăn do tâm lý của một số tiểu thương ngại bán hàng bình ổn thị trường vì lợi nhuận và chiết khấu thấp.

“Các doanh nghiệp tham gia chương trình chưa có sự liên kết chặt chẽ để phát hu, khai thác thế mạnh và tiềm năng của từng doanh nghiệp nhằm hỗ trợ nhau trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm cũng như lưu thông phân phối theo chuỗi giá trị”, bà Đào cho hay.

Xã hội hóa chương trình tạo tính lan tỏa

Để phát huy những thành công đồng thời tăng cường tính hiệu quả của chương trình bình ổn trong năm 2013 và những năm tiếp theo, đại diện Bộ Công Thương, Bộ Tài chính cùng Sở Công Thương các tỉnh thành, các công ty đều bày tỏ quan điểm thống nhất trong việc xã hội hóa chương trình này, tạo được sự đồng thuận và nhất trí cao giữa các doanh nghiệp, các địa phương với mục tiêu cao cả là vì quyền lợi người tiêu dùng, tạo sự lan tỏa, góp phần thực hiện thành công cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.

Đại diện Sở Công Thương TP Hà Nội cho biết, trong năm 2013, thành phố sẽ hướng chương trình vào 4 mũi nhọn. Trong đó thiết thực là mở rộng việc đưa hàng về khu công nghiệp, khu chế xuất, các bếp ăn tập thể dành cho công nhân, bếp ăn trường học dành cho học sinh, sinh viên, các cháu mầm non, đối tượng có thu nhập thấp…bằng việc đẩy mạnh khai thác, thu mua hàng hóa trong và ngoài thành phố, liên kết với các tỉnh bạn trong việc khai thác hàng hóa.

Bà Lê Ngọc Đào, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP HCM thì cho rằng, năm 2013, thành phố tiếp tục triển khai chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng dụng cụ học tập phục vụ mùa khai trường, chương trình sữa và dược phẩm thiết yếu… Qua đó, thành phố sẽ chủ động thực hiện việc kết nối giữa doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất phù hợp.

“Các doanh nghiệp còn được hỗ trợ tham gia chương trình kích cầu đầu tư mở rộng chuồng trại, chăn nuôi, đầu tư con giống, đối mới công nghệ… Các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường sẽ được hỗ trợ quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu trên các phương tiện truyền thông đại chúng, được hỗ trợ kết nói đưa hàng hóa vào hệ thống phân phối”, bà Đào cho biết./.

Từ khoá: người lao động gia thành công người tiêu dùng hiệu quả bộ tài chính mở rộng hàng hóa liên kết doanh nghiệp triển khai thị trường nông thôn giám đốc khai thác thu nhập thấp

Vay tiền từ gói 30.000 tỷ: Lãi suất không được vượt 6%

(VOV) -Trong thời gian 10 năm, nếu lãi suất trên thị trường xuống thì mức lãi suất này cũng sẽ được điều chỉnh giảm.

Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam, trong gói hỗ trợ này sẽ dành khoảng 30% nguồn tiền cho các DN xây nhà ở xã hội được vay để tạo ra nguồn cung. 70% còn lại để tăng cầu bằng việc hỗ trợ cho người dân mua nhà. Như vậy là chúng ta vừa tạo ra nguồn cung và vừa tạo ra sức mua làm tăng thanh khoản của hàng hóa trong lĩnh vực này. Ông Nam cũng bày tỏ hy vọng, sau động thái này sẽ làm ấm lên giao dịch trong phân khúc này và sẽ lan tỏa ra các phân khúc khác.

“Với lãi suất 6%/năm, cho vay trong 10 năm, với các hộ gia đình ở thành phố lớn hoàn toàn có đủ khả năng vay và trả. Về lâu dài, chúng ta sẽ có các chính sách khác để tạo được cung và khả năng thanh toán cho người mua nhà” – Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam nói về gói hỗ trợ 30.000 tỷ.

PV: Thưa Thứ trưởng, dư nợ BĐS hiện đang là 200 ngàn tỉ đồng. Vậy khoản hỗ trợ này chỉ với 30 ngàn tỉ đông có quá nhỏ bé?

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam: Tôi nghĩ, đây là con số rất là đáng kể. Vì tăng trưởng tín dụng chung của năm 2012 và 4 tháng 2013 rất thấp. 4 tháng đầu năm 2013 tăng trưởng tín dụng chi 1,44%. So với tăng trưởng tín dụng chung thì mức tăng 15% của 30 ngàn tỉ so với 200 ngàn là cao hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng chung của cả nước trong năm nay (theo kế hoạch là 12%).

Nếu dòng tiền này được các NHTM nhà nước trển khai tốt và đúng đối tượng thì đây sẽ là cú hích cho thị trường BĐS vào phân khúc nhà ở xã hội và nhà ở thương mại quy mô nhỏ, giá rẻ. Tất nhiên là so với nhu cầu, với mong muốn của người dân và DN thì gói hỗ trợ này chưa đáp ứng được nhiều.

PV: Thị trường mong đợi gói hỗ trợ này từ rất lâu. Thế nhưng đến giờ NHNN mới ra đời thông tư hướng dẫn, ông đánh giá như thế nào?

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam: Thông tư ra đời rất đúng lúc vì kinh tế đã có tín hiệu tốt lên. Đặc biệt đối với thị trường BĐS theo chúng tôi đánh giá hay như các công ty nghiên cứu thị trường như CRVA, Savills thì có mấy loại hàng hóa sau có tính thanh khoản tốt.

Thứ nhất: đối với hững hàng hóa sắp hoàn thiện hoặc đã hoàn thiện. Người mua tìm thấy hàng hóa cụ thể và có thể vào ở ngay.

Thứ hai: đối với hàng hóa có diện tích dưới 70m2, giá bán thấp dưới 15 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, đối với người thu nhập thấp đang có nhu cầu về nhà ở thực sự thì cũng khó.

Do vậy, gói hỗ trợ tung ra vào thời điểm này vừa đáp ứng được nhu cầu của người dân và vào đối tượng cụ thể nên sẽ có tác dụng cộng hưởng với việc ấm lên của thị trường BĐS.

PV: Theo ông, nguồn cung hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu của người dân?

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam: Chúng ta phải tác động cả hai đầu là cung và cầu. Đến nay, theo thống kê của Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 60 dự án nhà ở xã hội đang trong quá trình triển khai.

Trong số này có cả dự án làm từ đầu và chuyển từ nhà thương mại sang nhà xã hội với quy mô vài chục ngàn căn nhà.

Và trong cuối tháng 5, đầu tháng 6, ở Hà Nội chắc chắn sẽ khởi công và động thổ 5-7 dự án nhà ở xã hội, không kể các dự án đang làm.

Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ Xây dựng, riêng các bộ, ngành, trung ương đăng ký nhà ở xã hội lên đến gần 100 ngàn căn. Đây là thị trường rất rộng lớn và chúng ta bước đầu đã tạo được nguồn cung.

PV: Nếu gói hỗ trợ này giải ngân tốt thì Bộ Xây dựng và NHNN có tính tiếp đến việc triển khai một gói nữa, thưa ông?

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam: Trước mắt, quan điểm của hai bên là sẽ tập trung triển khai tốt cho vay đúng địa chỉ, nhanh và thuận tiện cho các đối tượng được vay là DN và những người có khó khăn về nhà ở.

Trong quá trình thực hiện sẽ theo dõi đánh giá và tổng kết, trên cơ sở hiệu quả của gói 30 tỉ này hai cơ quan sẽ tính toán, đồng thời còn căn cứ vào khả năng của ngân sách, vốn và nhu cầu của thị trường. Song, không ngoại trừ là chúng ta có thể tăng thêm nguồn cho gói hỗ trợ.

PV: Thực tế hiện nay, nhiều người dân khi mua nhà thường phải trả thêm chênh lệch so với giá hợp đồng. Liệu đối với nhà ở xã hội có tình trạng này hay không, thưa ông?

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam: Trong trường hợp này sẽ không có chuyện chênh lệch đối với nhà ở thu nhập thấp và nhà ở thương mại.

PV: Với các tiêu chuẩn đưa ra khá khắt khe, có nghĩa đối tượng được mua nhà ở xã hội sẽ rất hạn chế, thưa ông?

Ông Nguyễn Trần Nam: Đối tượng rất mở rộng, là những người có hợp đồng thu nhập thấp gồm cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, những người lao động trong DN ở các thành phần, người lao động tự do…

Còn đối với người mua nhà ở thương mại thì có giới hạn một chút là phải có hộ khẩu thường trú hoặc là hộ khẩu tạm trú và đã có đóng bảo hiểm ở các đơn vị sử dụng lao động 1 năm trở lên. Trước mắt chỉ hướng đến việc giải quyết khó khăn về nhà ở cho những người đang sống và làm việc tại đô thị. Nếu việc này làm không khéo thì lại dẫn đến tình trạng di dân tự do… Vì lực của ta hạn chế.

Mức thu nhập thấp để được mua nhà ở xã hội là những người không phải đóng thuế thu nhập, tức là có mức thu nhập dưới 9 triệu đồng/tháng.

PV: Xin cảm ơn ông!/.

Từ khoá: xây dựng khả năng thanh toán thị trường thu nhập thấp lao động gia đồng bảo hiểm tăng trưởng hàng hóa phân khúc người lao động người dân người thu nhập thấp mức thu nhập tín dụng triển khai nhu cầu thứ trưởng

Hải quan Bình Dương lắng nghe và đồng hành cùng DN Nhật Bản

avatar.aspx?ID=76277&at=0&ts=177&lm=635040540079370000

Toàn cảnh đối thoại giữa Hải quan và Doanh nghiệp Nhật Bản.(eFinance Online) – Nhằm phổ biến các quy định mới về quy trình thủ tục hải quan, thủ tục cấp C/O, và giải đáp khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp (DN) trong quá trình thực hiện thủ tục XNK hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương, ngày 10/5/2013, Cục Hải quan Bình Dương đã phối hợp cùng Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị đối thoại với Hiệp hội DN Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương lần I năm 2013.

Trong những năm qua, mối quan hệ giữa Hải quan Bình Dương với DN nhìn chung đã có nhiều chuyển biến tích cực, được thực hiện hóa trong cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa Hải quan nhằm tạo lập môi trường thương mại lành mạnh, bình đẳng, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật và nuôi dưỡng nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước.

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã có hơn 170 dự án của DN Nhật Bản còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 3,2 tỷ USD. Trong 3 năm qua, nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản gia tăng nhanh chóng. Cụ thể năm 2011, vốn đầu tư Nhật Bản chiếm 26% trong tổng vốn 1,12 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào tỉnh; năm 2012, vốn đầu tư từ Nhật Bản chiếm đến 75,08% trong tổng số 2,84 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào tỉnh; 3 tháng đầu năm 2013, Nhật Bản tiếp tục là một trong những quốc gia có vốn đầu tư lớn vào Bình Dương.

Tính riêng trong năm 2012, kim ngạch XNK giữa hai nước đã đạt trên 25 tỉ USD và Nhật Bản tiếp tục là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam. Về đầu tư, tính đến cuối năm 2012, Nhật Bản đã đứng thứ nhất về đầu tư vào Việt Nam với hơn 1.800 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 29 tỉ USD…

Đại diện doanh nghiệp Nhật Bản nêu câu hỏi vướng mắc.

Tại Hội nghị đối thoại lần này, các vướng mắc của DN về các lĩnh vực như: thủ tục nhập khẩu phụ tùng linh kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ, tại sao C/O form D thì được ghi số Invoice của nước thứ 3 còn C/O mẫu B thì không, các vấn đề liên quan đến Báo cáo thanh khoản, Bảo lưu thuế nhập khẩu nguyên vật liệu… đều đã được Cục Hải quan Bình Dương trả lời thỏa đáng.

Theo đại diện Cục Hải quan Bình Dương, năm 2013, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện thuận lơi nhất cho tất cả DN tại địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương nói riêng, Cục Hải quan Bình Dương sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh, Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính để hỗ trợ tối đa cho DN trong hoạt động XNK: Khắc phục những tồn tại của việc áp dụng Hải quan điện tử (các sự cố kỹ thuật đường truyền số liệu, nâng cao an toàn mạng…).

Ngoài ra, Hải quan Bình Dương sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng máy soi container tại Bãi kiểm tra thực tế hàng hóa tập trung thuộc Chi cục Hải quan Quản lý hàng hóa XNK Ngoài Khu Công nghiệp.

Đặc biệt, Lãnh đạo Cục Hải quan Bình Dương sẽ quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng đối thoại Hải quan – DN; Trong đó có Hội DN Nhật Bản đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Dương, nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của DN; nhanh chóng truyền tải các thông tin cập nhật cề cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động Hải quan tới cộng đồng DN. Thu thập ý kiến của các DN để phản ánh lên cấp có thẩm quyền nhằm hoàn thiện những chính sách, quy định có liên quan… góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh…

(Lê Xuyền)

Từ khoá: nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh doanh nghiệp nhật bản thủ tục hành chính quy định việt nam giấy chứng nhận hàng hóa bộ tài chính thủ tục

Tranh kho hàng thế chấp: chuyện không cá biệt

(ĐTCK) Để không rơi vào cảnh phải xử lý tranh chấp kho hàng, mất vốn, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro.

Luật sư Trần Minh Hải

Gần đây, thị trường đã ghi nhận một số vụ tranh chấp tài sản bảo đảm là hàng hóa tồn kho luân chuyển giữa các ngân hàng khi DN thế chấp ở nhiều nơi để vay vốn. Theo Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc điều hành Công ty Luật Basico, đây không phải là những tình huống cá biệt, bởi cho vay bằng tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho luân chuyển đang chiếm tỷ lệ cao trong cho vay khách hàng DN và Việt Nam vẫn chưa có bên thứ ba độc lập đứng ra đảm bảo về tài sản thế chấp.

Thưa ông, khi ngân hàng cho vay và nhận tài sản bảo đảm, hẳn phải có biện pháp để ngăn ngừa tình trạng tài sản đã được thế chấp ở nhiều nơi, nhiều lần?

Đối với các tài sản bảo đảm hiện hữu về giấy tờ pháp lý như nhà đất, phương tiện vận tải, nhìn chung, các ngân hàng có thể ngăn ngừa được nguy cơ này. Nhưng khi tài sản thế chấp hàng hóa thì ngân hàng khá mơ hồ.

Tại các ngân hàng, cho vay đảm bảo bằng hàng hóa tồn kho luân chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong cho vay khách hàng DN. Đây cũng là tài sản chủ đạo của các DN sản xuất, DN càng lớn thì càng thường xuyên sử dụng kho hàng làm tài sản đảm bảo.

Về nguyên tắc, khi nhận tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho luân chuyển thì giá trị tài sản đảm bảo phải lớn hơn giá trị khoản vay. Đối với loại tài sản bảo đảm này, ngân hàng thường sử dụng biện pháp bảo đảm thế chấp, có nghĩa là tài sản hàng hóa bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Nhưng thông thường, một khoản vay của khách hàng chỉ có giá trị một phần so với kho hàng và DN cũng chỉ dùng phần hàng hóa trong kho tương ứng với khoản vay làm tài sản bảo đảm. Như vậy, DN cũng có thể dùng kho hàng làm tài sản bảo đảm để vay nợ nhiều nơi khi mà họ thực hiện một khoản vay khác và mua thêm hàng hóa. Vấn đề là khi đó, trong hàng tấn, hàng chục nghìn tấn hàng hóa trong kho, ngân hàng không thể biết đâu là tài sản bảo đảm của ngân hàng mình. Điều này chả khác nào nhận một con lợn con trong đàn lợn làm tài sản bảo đảm, không thể biết con nào là của mình. Do đó, khi DN không có khả năng thanh toán, đã dẫn đến cảnh ngân hàng bao vây, chặn lối vào kho hàng.

Còn rủi ro nào khác mà ngân hàng phải đối mặt khi nhận tài sản bảo đảm là hàng hóa?

DN khi dùng khoản vay mua hàng, có thể xuất hiện tình huống chưa thanh toán hết cho bên bán hàng. Như vậy, tài sản đó chưa phải là tài sản của DN và bên bán hàng cũng có quyền xử lý kho hàng đó để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng không chỉ phải tranh chấp với nhau, mà còn phải tranh chấp với cả bên bán hàng.

Khi xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ngân hàng thường đối mặt với nguy cơ giá bán giảm, nguy cơ “tuồn kho”, khó bán tài sản, nếu tiếp tục duy trì kho hàng thì tốn chi phí vận hành như đông lạnh, bảo vệ… Ngoài ra, tài sản bảo đảm này là hàng hóa luân chuyển, tức là liên tục có nhập hàng, xuất hàng, khối lượng hàng hóa thay đổi liên tục. Nhằm đề phòng DN rút ruột kho hàng, ngân hàng thường thỏa thuận tài sản bảo đảm là lượng hàng hóa trong kho ở mọi thời điểm và nếu hàng hóa sụt giảm thì DN phải bù đắp dư nợ hoặc tài sản khác, nếu không ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ thành nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn. Nhưng trên thực tế, việc quản lý tài sản thế chấp là hàng tồn kho cũng gần như quản lý tài sản vô hình.

Vậy, theo ông, ngân hàng có thể sử dụng biện pháp gì khi cấp tín dụng để không rơi vào tình huống phải bao vây kho hàng siết nợ DN?

Có một công thức chung cho việc nhận bảo đảm bằng hàng hóa, đó là “thế chấp bằng tín chấp”, “cầm cố bằng chắc chắn”.

Xét về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, hiện các ngân hàng sử dụng biện pháp thế chấp đối với hàng hóa tồn kho luân chuyển, tài sản bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Tuy nhiên, với biện pháp thế chấp này, ngân hàng không trực tiếp nắm giữ tài sản, nên có nhiều rủi ro như đã nói ở trên.

Để hạn chế rủi ro khi sử dụng biện pháp bảo đảm bằng kho của bên thứ ba, tốt nhất các ngân hàng nên trực tiếp ký hợp đồng hai bên với bên cho thuê kho và trực tiếp trả tiền thuê để bảo đảm duy nhất một đầu mối quan hệ, tránh trường hợp ký ba bên như hiện nay, khiến cho bên cho thuê kho chỉ biết đến khách hàng của ngân hàng.

Giải pháp tốt hơn là ngân hàng sử dụng biện pháp cầm cố, tức là quản lý trực tiếp hàng hóa tại kho của ngân hàng. Hiện có ngân hàng muốn lựa chọn biện pháp này, nhưng lại vướng mắc quá nhiều trên thực tế, từ kinh phí cho đến việc bố trí quản lý kho, tổng kho theo địa bàn tập trung hàng hóa vùng miền, rào cản pháp lý về chức năng cho thuê kho… Nếu muốn, ngân hàng thường phải thành lập công ty con có chức năng quản lý nợ và khai thác tài sản và kho hàng sẽ do công ty này quản lý. Tuy nhiên, thủ tục rất phức tạp và phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

Trong trường hợp phát sinh việc khách hàng dùng kho hàng thế chấp nhiều lần và hàng hóa không đủ trả nợ tất cả khoản vay, các ngân hàng phải giải quyết ra sao? Khoản nợ nào sẽ được ưu tiên?

Về nguyên tắc, không có khoản nợ nào được ưu tiên vì hàng hóa đã bị trộn lẫn trong kho và không thể chứng minh con cá hay thanh thép trong kho là của ngân hàng nào. Trong tình huống này, các ngân hàng phải trông chặt kho hàng để tránh tình trạng tẩu tán hàng hóa. Nếu kho đã hết hàng thì các ngân hàng phải ngồi lại với nhau để có giải pháp. Lựa chọn giải pháp cụ thể nào thì tùy từng ngân hàng, cũng có ngân hàng lựa chọn cách thức đưa ra cơ quan công an. Nhưng về nguyên tắc, cơ quan công an chỉ điều tra, xác định vi phạm pháp luật hình sự đối với từng cá nhân, do đó, việc đưa ra cơ quan công an không thể giải quyết mục tiêu thu hồi nợ của các ngân hàng. Nếu khởi kiện dân sự thì tốn kém và mất thời gian.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, do vậy, để không rơi vào cảnh phải xử lý tranh chấp kho hàng, mất vốn, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro. Trước khi phê duyệt khoản vay bằng tài sản đảm bảo là kho hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ về tài sản đảm bảo này cũng như xây dựng được phương thức quản trị tốt nhất với khoản vay.

Theo luật sư Trần Minh Hải, ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với uy tín của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý.

Từ khoá: hàng không quản trị rủi ro chứng chỉ bão tài sản khách hàng khả năng thanh toán công an công ty pháp lý giải pháp hàng hóa thành lập công ty nền kinh tế tranh chấp thanh toán tình huống kho hàng lựa chọn nguy cơ nâng cao chất lượng chất lượng ngân hàng gia

Vì sao nhiều kệ hàng Big C trống trơn?

Theo đại diện Big C, siêu thị này đang triển khai hệ thống đặt hàng tự động và cách trưng bày mới nên một số kệ hàng trống trơn tạm thời.

Trao đổi với bà Huỳnh Thị Ngọc Trâm (đại diện hệ thống siêu thị Big C) chiều 8/5, việc nhiều kệ hàng của siêu thị “trống trơn” đã diễn ra gần một tháng nay. Tuy nhiên, không phải Big C thiếu hàng bất thường mà do siêu thị đang hiện đại hệ thống.

Theo dự kiến, để giảm thiểu tình trạng thiếu hàng, Big C đang liên kết với các nhà cung cấp triển khai hệ thống đặt hàng tự động và thay đổi phương án trưng bày hàng hóa hiện đại, khoa học hơn. Trong quá trình thực hiện, một số kệ hàng phải để trống để nhân viên thực hiện thấy rõ ưu, khuyết điểm của việc trưng bày, sắp xếp hàng hóa cũng như đặt hàng. Đây là một dự án lớn và thực hiện tốn thời gian, nhưng khi hoàn thiện thì hàng hóa sẽ được trưng bày khoa học, hiện đại, đẹp mắt, giúp khách hàng dễ chọn sản phẩm cũng như siêu thị quản lý hàng hóa dễ hơn. Dự kiến trong vài tuần nữa dự án này sẽ hoàn thiện và các kệ hàng sẽ trở lại bình thường.

Nhiều kệ hàng Big C để trống và treo biển tạm thời hết hàng.

Cũng theo bà Trâm, việc hết hàng hoặc tạm thời hết một số mặt hàng tại các điểm phân phối không có gì lạ. Big C là siêu thị lớn, kinh doanh đến 50.000 mặt hàng, nên việc vài chục, thậm chí cả trăm mặt hàng thay phiên nhau “đứt” hàng cũng thỉnh thoảng xảy ra và điều này là bình thường trong kinh doanh của siêu thị.

Tuy nhiên, trước đây, khi một số kệ nào đó đứt hàng, tùy tình hình, nhân viên sẽ chuyển hàng tại các kệ hàng khác sang lắp đầy, để tối ưu hóa việc kinh doanh của siêu thị. Việc này có khi gây khó khăn cho khách hàng trong việc tìm mua hàng hóa và cả vấn đề quản lý của siêu thị. Hiện nay, để thuận tiện hơn cho khách hàng trong quá trình mua sắm, Big C đã quyết định để trống tất cả các vị trí thiếu hàng và ghi bảng thông báo để họ không phải mất thời gian tìm kiếm, đồng thời giúp nhân viên Big C nắm rõ tình trạng hàng hóa và có giải pháp đặt hàng hiệu quả nhất.

Nhiều kệ sữa chua, sữa tươi, bánh ngọt không còn hàng.

Đề cập đến chuyện hết hàng do trục trặc giữa siêu thị với các nhà cung cấp, như chuyện các nhà cung cấp đòi tăng giá, siêu thị không đồng ý dẫn đến đứt nguồn hàng, đại diện siêu thị khẳng định không có tình trạng này. Bởi đây không phải cao điểm mua sắm, hàng hóa đầu vào cũng không có mặt hàng nào tăng giá thì chuyện nhà cung cấp làm áp lực tăng giá là vô lý.

“Siêu thị có hàng trăm đối tác cung cấp hàng hóa. Việc có một vài nhà cung cấp yêu cầu tăng giá diễn ra hàng ngày, nhưng không có chuyện thời điểm này đồng loạt các nhà cung cấp làm áp lực tăng giá. Và khi các nhà cung cấp yêu cầu tăng giá, nếu thấy không lý thì chúng tôi sẽ đàm phán để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngay cả việc ngưng hợp tác”, bà Trâm nói.

Năm 2011, Big C từng “tuyên chuyến” với nhiều nhà phân phối, bằng cách để hàng loạt kệ hàng trống. Vì nhiều nhà cung cấp yêu cầu tăng giá bất hợp lý, siêu thị này đã tuyên bố không nhập hàng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cuối cùng các nhà cung cấp đã phải nhượng bộ, giữ giá.

Kệ gạo cũng trống trơn với một số loại.
Có nhiều kệ hàng trống được dùng chứa thùng giấy.

Những ngày trước đó, nhiều khách mua hàng tại siêu thị Big C Hoàng Văn Thụ lạ lẫm vì tại nhiều kệ, hàng hóa chỉ còn lèo tèo vài sản phẩm, thậm chí có một số kệ trống trơn. Đáng chú ý, khá nhiều kệ hàng trống rơi vào các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, hàng thực phẩm, hóa mỹ phẩm như mì, phở ăn liền, nước chấm, gia vị, sữa, trứng, gạo, dầu gội, nước xả vải… Ngoài ra, nhiều kệ trái cây sấy, thức uống, chất tẩy rửa, đũa ăn, bình đun nước… cũng rơi vào tình trạng hết hoặc sắp hết hàng.

Cùng với đó, tại các kệ này, siêu thị treo bảng thông báo “sản phẩm tạm thời hết hàng” hoặc “sản phẩm sắp hết hàng”. Có nhiều thông báo ghi rõ sản phẩm tạm thời hết hàng từ thời điểm nào, như các bảng thông báo “sản phẩm tạm thời hết hàng từ ngày 3/5″ với trái cây sấy; ” sản phẩm tạm thời hết hàng từ ngày 1/5″ với nước chấm, “hết hàng ngày 7/5” với giò chả… Nhiều khách hàng thắc mắc, mọi khi siêu thị này hàng hóa kín mít nhưng không hiểu sao gần đây để quá nhiều kệ hàng trống, treo bảng hết hàng, nhiều nhân viên siêu thị cho biết là chờ nhập hàng mới.

Hà Linh

Ảnh: Lê Quân

Theo Infonet

Từ khoá: cung cấp khách hàng kinh doanh người tiêu dùng gia nhân viên tiêu dùng sản phẩm bảo vệ quyền lợi hàng hóa bão

Thị trường mũ bảo hiểm giả: Khó “dẹp”!

(Dân trí) – Ghi nhận sau 2 tháng ra quân, thị trường mũ bảo hiểm đã phần nào chuyển biến, không còn tình trạng bán mũ giả công khai trên lòng đường, vỉa hè. Song Quản lý thị trường cho biết, do cầu tiêu dùng mũ bảo hiểm giả vẫn lớn nên khó dẹp cung.

>> Kinh doanh mũ bảo hiểm giả bị phạt tới 200 triệu đồng

>> Xóa bỏ mũ bảo hiểm rởm trước 30/4

Thị trường mũ bảo hiểm giả: Khó dẹp!

Tọa đàm thực hiện Chỉ thị 04 về tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông

(Ảnh: BD).

Theo báo cáo của Cục Quản lý thị trường Bộ Công thương về kết quả đợt cao điểm kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm kinh doanh mũ bảo hiểm trên thị trường giai đoạn 25/2-30/4/2013, đã có 3.672 vụ kiểm tra được thực hiện. Tổng số cơ sở kinh doanh có vi phạm hành chính lên tới 1.776 đơn vị; tạm giữ, tịch thu gần 54 nghìn chiếc mũ; xử phạt hành chính đến thời điểm hiện nay ở con số 873 triệu đồng.

Theo đánh giá của cơ quan quản lý, trong số 3.672 cơ sở kinh doanh mũ bảo hiểm bị kiểm tra, số cơ sở có hành vi vi phạm hành chính chiếm 48%. Các cơ sở này phần lớn là lần đầu vi phạm. Hành vi vi phạm chủ yếu là hàng hóa không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc và không ghi nhãn hàng hóa theo quy định.

Quản lý thị trường ghi nhận, sau đợt kiểm tra tổng lực, hiện đã không còn hiện tượng bày bán công khai các loại mũ có kiểu dáng giống mũ bảo hiểm, mũ nhựa, mũ thời trang không bảo đảm chất lượng tại các tuyến phố, tuyến đường giao thông và trên lòng đường, vỉa hè.

Tuy nhiên, đại diện cơ quan này thừa nhận, dù Thông tư liên tịch 06 đã ban hành, nhưng căn cứ để xử lý các hành vi trên vẫn chưa thực sự rõ ràng do chế tài xử phạt mới chỉ áp dụng đối với người không đội mũ bảo hiểm và đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách.

Do vậy, nhu cầu mua sử dụng các loại mũ không bảo đảm chất lượng giá rẻ vẫn còn. Việc này dẫn đến vẫn tồn tại một bộ phận người kinh doanh cung cấp các loại mũ không bảo đảm chất lượng giá rẻ cho người tiêu dùng.

Khó phạt, khó dẹp

Cũng theo cơ quan quản lý thị trường, còn có nhiều vướng mắc về thủ tục khi xử lý các đối tượng kinh doanh mũ bảo hiểm không bảo đảm chất lượng, mũ có kiểu dáng giống mũ bảo hiểm, mũ nhựa – loại mũ người đi xe máy hay mua sử dụng đối phó.

“Đối với các loại mũ bảo hiểm chưa chứng nhận hợp quy thì phải truy nguồn gốc nơi sản xuất mới có căn cứ xử lý triệt để, đặc biệt là đối với các cơ sở bán mũ nhỏ lẻ (như bán hàng rong) thì việc này rất khó khăn, trong khi người tiêu dùng hay mua mũ của các đối tượng này vì tiện lợi và giá rẻ” – Đại diện cơ quan này cho hay.

Hiện nay đối với các loại mũ nói trên, lực lượng chức năng chủ yếu xử lý vi phạm về hóa đơn, chứng từ hoặc nhãn hàng hóa.

Ngoài ra, cơ quan quản lý cũng kêu khó trước thực trạng khi kiểm tra chất lượng mũ bảo hiểm lưu hành trên thị trường có vi phạm về chất lượng, nhưng đơn vị sản xuất mũ bảo hiểm ở địa bàn tỉnh khác. Lúc cơ quan chức năng mời đến giải quyết, đơn vị sản xuất không đến làm việc hoặc đến nhưng không thừa nhận mũ vi phạm do đơn vị mình sản xuất nên việc xử lý gặp khó khăn.

Thực tế kiểm tra có đơn vị sản xuất chỉ cung cấp giấy chứng nhận hợp quy một hoặc hai kiểu loại nhưng hàng hóa lưu hành trên thị trường thì số lượng kiểu loại nhiều hơn, rất khó đối chiếu để kiểm tra kết luận. Nguyên nhân đơn vị cấp chứng nhận hợp quy không có mẫu (hình ảnh) kiểu loại được chứng nhận hoặc tài liệu mô tả sản phẩm được chứng nhận kèm theo.

Mức xử phạt vi phạm là quá nhẹ, không đủ sức răn đe cũng được cho là một yếu tố cản trở khiến hơn 2 tháng “dẹp” các điểm vi phạm, tình trạng cũ lại tái diễn.

“Thời điểm hai tháng trước, lúc ra quân ồ ạt, người dân đổ xô đi mua mũ đúng chuẩn. Nhưng sau một thời gian, cơ bản tình trạng lại quay về điểm xuất phát”, vị đại diện cho hay.

Hơn nữa, giá cả mặt hàng này trên thị trường không thống nhất, phần lớn các hộ kinh doanh tự định giá bán lẻ, nên gây khó khăn cho lực lượng Quản lý thị trường trong việc giám sát, kiểm soát, bình ổn giá ngăn chặn hành vi trục lợi bất chính.

Như vậy, nhìn chung, việc cưỡng chế của cơ quan chức năng chỉ đóng một phần trong việc loại mũ bảo hiểm kém chất lượng, mũ giả bảo hiểm ra khỏi thị trường. Phần lớn vẫn phải phụ thuộc vào ý thức người tiêu dùng, triệt bỏ nguồn cầu để nguồn cung không còn đất sống.

Bích Diệp

Từ khoá: hàng hóa chất lượng gia tiêu dùng giấy chứng nhận thị trường bão kiểm tra khó khăn tham gia giao thông vi phạm kinh doanh xử phạt người tiêu dùng bảo hiểm

Sáng tạo nhà nông – Kỳ 1: Kỹ sư làng chế tạo cáp treo

Hàng loạt hệ thống cáp treo do nông dân Nguyễn Hữu (53 tuổi, 44 Mimosa, P.10, TP.Đà Lạt, Lâm Đồng) tự chế tạo và lắp đặt ở các khu vườn tỏ ra rất hiệu quả.

>> Người sáng chế bếp tiết kiệm than

>> Trao bằng độc quyền sáng chế quy trình trồng sâm Ngọc Linh

>> “Kỹ sư làng” lai tạo giống điều mới

“Kỹ sư” làng

Là một nông dân chính hiệu, mới học hết lớp 9 và không qua trường lớp đào tạo về cơ khí nào nhưng Nguyễn Hữu đã nghiên cứu sáng chế và cho ra đời nhiều hệ thống cáp treo tiện lợi giúp bà con nông dân bớt cảnh nhọc nhằn trong sản xuất nông nghiệp. Tên gọi “kỹ sư làng” hay “nông dân cáp treo” là cách mà nhiều người ưu ái dành riêng mỗi khi nhắc tới anh.

Nguyễn Hữu bên hệ thống cáp treo chạy bằng máy nổ do anh sáng chế, lắp đặt được 7 năm – Ảnh: G.B

Từ công việc làm nông, anh thấu hiểu bao nỗi nhọc nhằn của bà con nông dân ở những nơi đồi núi cao. Không như những vùng đồng bằng bằng phẳng khác, ở đây tất cả mọi thứ từ phân bón đến nông sản thu hoạch, bà con phải vận chuyển bằng đôi vai của mình, tiêu tốn khá nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả lao động không cao. Cách đây khoảng 10 năm, trong một lần xem phim nước ngoài trên ti vi, Nguyễn Hữu nhìn thấy cảnh cáp treo vận chuyển người thật độc đáo nên tò mò tìm hiểu. “Người ta dùng cáp treo phục vụ du lịch được, vậy tại sao mình không làm cáp treo để phục vụ nông nghiệp?”, Nguyễn Hữu suy nghĩ và bắt tay vào nghiên cứu rồi cho ra đời hệ thống cáp treo của riêng mình.

Cáp treo giá rẻ

Anh trao đổi ý tưởng với một người anh bà con rồi mượn khu vườn có địa hình trắc trở, quan sát địa hình rồi về thiết kế, tính toán kết cấu chịu lực của hệ thống cáp treo hết một tháng trời. Sau đó đưa ra thi công mất thêm 3 tháng nữa mới xong hệ thống cáp treo hoàn chỉnh đầu tiên. Anh Hữu cho biết, tùy địa hình, độ dài ngắn và khả năng vận chuyển hàng hóa nặng hay nhẹ mà mỗi hệ thống cáp treo sẽ có cấu tạo cũng như giá cả đầu tư xây dựng khác nhau.

Thông thường, ở những nơi có điện lưới, một hệ thống sẽ gồm một mô tơ 2 – 3 ngựa (nếu không thì dùng máy nổ), một giàn cơ điều khiển, hai trụ bê tông kiên cố ở hai đầu và có treo ròng rọc (nếu không kiên cố thì dùng trụ sắt hoặc cây rừng), một dây cáp cái (cáp lớn) và một dây cáp nhỏ cùng một “ca bin” (tời). Dây cáp lớn dùng để treo “ca bin”, còn dây cáp nhỏ để kéo cho “ca bin” di chuyển. Trên hệ thống còn được lắp đặt bộ thắng để điều khiển “ca bin” chạy nhanh, chậm hoặc cho dừng theo ý muốn. Để vận hành hệ thống cáp treo này chỉ cần 2 người: 1 người đứng ở trụ đầu đi để chất hàng hóa vào “ca bin” và cho vận hành, người còn lại đứng ở điểm đến để cho hàng hóa xuống. Một lượt vận chuyển hàng hóa trên 100 m cáp treo với thời gian chỉ từ 1 – 2 phút. Thấy công trình mang lại hiệu quả, nhiều người đã đến thuê “kỹ sư nông dân” này về thiết kế, lắp đặt hệ thống cáp cho mình để phục vụ sản xuất.

Đến nay, “nông dân cáp treo” này đã lắp đặt hơn 100 hệ thống cáp treo có độ dài từ 100 – 1.000 m cho bà con ở địa phương và các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai với giá từ 17 triệu đến hơn 70 triệu đồng/hệ thống. Anh Hữu cho hay: “Trung bình lắp đặt một hệ thống cáp treo này mất khoảng 20 ngày. Đầu tiên phải mất vài ngày chọn cho được vị trí, ngắm địa hình phù hợp, tính toán đặt tời sao cho khỏi vướng, sau đó xây trụ bê tông rồi kéo cáp…”.

Hưởng lợi từ hệ thống cáp treo này trong 7 năm qua, nông dân Huỳnh Thừa (58 tuổi, Khe Sanh, P.10, Đà Lạt) cho biết: “Ngày xưa, khi chưa có hệ thống này, gia đình tôi phải thuê 5 – 7 người làm, và mùa mưa việc vác phân bón, sản phẩm thu hoạch lội qua suối và leo lên dốc hết sức khổ cực, thậm chí phải nghỉ làm chứ không vác được. Nhưng nay thì tôi không thuê ai cả, chỉ gia đình làm thôi”.

Gia Bình

Điện thoại anh Nguyễn Hữu: 0907624083

Từ khoá: gia hiệu quả vận chuyển hàng hóa lắp đặt vận chuyển sản xuất nông nghiệp hàng hóa nông dân