Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

USD vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. USD chỉ sa sút phong độ trong ngắn hạn. Và khi kinh tế Mỹ hồi phục, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

Box: Ông Jonathan Larsen, Ngân hàng Citi còn quá sớm để nói USD đã yếu thế

Trang 1 / 2

Đồng USD vẫn chưa thể bị thay thế trong dự trữ và thanh toán toàn cầu. Đó là ý kiến của ông Jonathan Larsen, Tổng Giám đốc phụ trách bán lẻ và thẻ tín dụng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Citi (Mỹ) trong cuộc phỏng vấn với NCĐT, nhân dịp ông đến TP.HCM dự lễ khai trương dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng Citi tại Việt Nam.

Ông nghĩ gì về việc đồng USD đang yếu đi?

Hãy còn quá sớm để cho rằng đồng USD đã yếu thế. Trong quá khứ, đồng tiền này cũng từng nhiều lần gặp khó khăn nhưng rồi đã vươn lên lại. Hiện tại, đây vẫn là đồng tiền thanh toán và dự trữ của rất nhiều quốc gia. Vì vậy, nhu cầu sử dụng USD luôn ở mức cao. Và một khi kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ phục hồi, đồng tiền này sẽ mạnh trở lại.

USD sẽ xuống giá đến mức nào trong tình hình hiện nay?

Trong ngắn hạn, USD có thể yếu đi vì Mỹ đang thâm hụt ngân sách hơn 1.400 tỉ USD. Nhưng USD yếu lại có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Mỹ.

Có nguồn tin cho rằng, các nước vùng Vịnh cùng Nga, Pháp, Trung Quốc và Nhật Bản muốn dùng đồng tiền khác dựa trên một rổ tiền tệ bao gồm đồng yên, euro, nhân dân tệ và một đồng tiền chung của vùng Vịnh (sẽ được tạo ra) để thay thế USD trong buôn bán dầu lửa. Theo ông, việc này có thể thành hiện thực hay không?

Đây là điều khó có thể xảy ra. Thứ nhất, USD vẫn là đồng tiền mạnh. Hơn nữa, rất ít quốc gia muốn biến đồng nội tệ của mình thành đồng tiền sử dụng trong thương mại toàn cầu và đồng tiền dự trữ của nước khác.Như vậy, họ sẽ phải chịu nhiều áp lực trong quan hệ kinh tế, thương mại, có thể gây tổn hại đến quyền lợi của quốc gia.

Nhưng họ cũng có thể tạo ra một đồng tiền quốc tế dựa trên đơn vị tiền tệ quy ước (SDR) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) như đề nghị của Trung Quốc hồi tháng 3 vừa qua?

Một số nước từng trao đổi với nhau về khả năng này. Nhưng đây là điều khó thực hiện được, dẫu trong dài hạn.

Có phải khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự chấm dứt?

Câu trả lời là chưa có gì chắc chắn, mặc dù chúng ta đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Về thực chất, cuộc khủng hoảng đã diễn ra trong 3 giai đoạn, bắt đầu từ Mỹ rồi lan ra toàn cầu. Giai đoạn thứ nhất là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu do chứng khoán phái sinh có gốc bất động sản bị rớt giá nghiêm trọng, khiến nhà đầu tư mất niềm tin vào các định chế tài chính. Tiếp đến là tiêu dùng bị xuống dốc, chủ yếu do siết chặt tín dụng tiêu dùng.

Giai đoạn 1 nay đã qua rồi. Thị trường chứng khoán đã phục hồi và nhà đầu tư đã lấy lại niềm tin đối với một số công cụ tài chính. Nhưng giai đoạn 2 thì vẫn chưa chấm dứt, mới qua được điểm đỉnh mà thôi; nhiều người vẫn bị phá sản, không trả được nợ vay ngân hàng. Gần đây, các ngân hàng đã bớt thắt chặt tín dụng, cho giãn thời hạn thanh toán. Vì thế, mặc dù rủi ro vẫn còn, nhưng giai đoạn 2 của cuộc khủng hoảng đã lắng dịu.

Tuy nhiên, giai đoạn 3 của cuộc khủng hoảng vẫn đang diễn ra trong khu vực bất động sản thương mại. Tình trạng các khu thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn bị đóng cửa, đặc biệt là ở Mỹ, vẫn diễn ra thường xuyên. Các bất động sản này đang xuống giá, nên có một số nhà đầu tư nhảy vào lĩnh vực này để nắm bắt cơ hội mua tài sản với giá rẻ. Nhưng nói chung, đây vẫn là khu vực nhạy cảm.

Tin vui là nền tài chính thế giới đã ổn định trở lại. Các ngân hàng lớn trên thế giới không còn đối mặt với tình trạng thiếu vốn nữa, dẫu chưa phải tất cả đã bình thường.

Ông có cho rằng sẽ diễn ra một cuộc khủng hoảng mới nữa như cảnh báo của một số nhà kinh tế?

Tôi không nghĩ như họ. Đừng quên là ngân hàng trung ương các nước đều chống lưng cho các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và cho cả hệ thống tài chính.

Nhà đầu tư đang rất hồ hởi trước sự phục hồi của kinh tế thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế châu Á. Có thể lạc quan như vậy không, thưa ông?

Nhà đầu tư hồ hởi cũng đúng thôi. Lấy ví dụ về nền kinh tế Singapore. Đây là nền kinh tế hướng đến xuất khẩu, giống như nhiều nền kinh tế châu Á khác. Giá trị xuất khẩu của Singapore tương đương 250% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và quý I năm nay, xuất khẩu của đảo quốc này đã giảm đến 40% so với cùng kỳ năm 2008, khiến tăng trưởng GDP bị âm.

Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng trở lại đây, các hoạt động kinh tế của Singapore đã nhộn nhịp trở lại, đặc biệt là trong ngành điện tử. Một phần là do nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc gia tăng nhờ gói kích cầu khổng lồ 586 tỉ USD của Chính phủ. Hoạt động nhập khẩu của châu Âu phục hồi (nhờ vào các chương trình kích thích kinh tế của các chính phủ) cũng góp phần vào sự phục hồi của Singapore.

Nhưng đâu là nhu cầu lớn nhất của thế giới?

Đây là điều cần phải xem xét cẩn thận. Cần biết rằng, Mỹ là nền kinh tế trị giá 14.000 tỉ USD mà 70% trong số đó là tiêu dùng. Người Mỹ thì mua hàng của cả thế giới, nhưng nay lại gia tăng tiết kiệm. Cần phải có thời gian để nhu cầu tiêu dùng ở Mỹ phục hồi. Tôi lạc quan trong ngắn hạn đối với tăng trưởng của một số nền kinh tế châu Á, nhưng về dài hạn thì cần phải theo dõi thêm. Phát triển có bền vững hay không mới là quan trọng.

Trang12Trang kế tiếp

Từ khoá: kinh tế thế giới thế giới kinh tế nhu cầu tiêu dùng khủng hoảng trung quốc ngân hàng tín dụng xuất khẩu singapore tài chính động sản gia thanh toán nhu cầu tiêu dùng tổng giám đốc bất động sản thị trường chứng khoán nền kinh tế chứng khoán toàn cầu